Từ Beirut tới Jerusalem: Hành trình “Đi để hiểu” Trung Đông của một người MỹTừ Beirut tới Jerusalem: Hành trình “Đi để hiểu” Trung Đông của một người Mỹ - chương 14

Chương 14Tải chương
Truyện khác > Lịch sử - Quân sự
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 
12. Dù sao chăng nữa, thành phố này thuộc về ai?

Mới đây, khi đáp chuyến xe bus tới phố King George ở Jerusalem, tôi không chú ý lắm tới người phụ nữ trẻ ở phía sau xe bus đang ngồi cạnh một người Do Thái Haredi [cực kỳ chính thống] vì anh ta đội chiếc mũ đen, mặc áo khoác đen, với bộ râu dài, còn cô ta thì đi đôi xăng đan, mặc váy không tay, hợp thành một phần trong khung cảnh điển hình với những người lính đang trong kỳ nghỉ phép, một bà già đội chiếc mũ kiểu quý bà, những chiếc ba lô năm năm có lẻ, và một giáo sĩ nhìn như người Mỹ đang đến muộn một buổi lễ. Chỉ sau khi người phụ nữ trẻ nhẹ nhàng bảo người Haredi làm ơn đóng cửa sổ lại thì tôi mới rời mắt khỏi tờ báo và thấy anh ta đáp lại khá thẳng thừng rằng “Cô làm ơn may tay áo dài ra được không?”

“Thưa ông,” người phụ nữ đáp lại, giọng cô cao vút lên cùng với sự phẫn nộ, “cửa sổ mở ra đang làm phiền tôi!”

Người Haredi dường như lúng túng.

“Thưa cô, những cánh tay để trần đang làm phiền tôi,” anh ta đáp lại.

Gương mặt người phụ nữ giờ đây trở nên dữ tợn và kiên quyết khi cô ta chậm rãi nhấn từng âm tiết trong miệng và bắn nó tới tai của tất cả mọi người trên xe bus: “Tay của tôi hay tay của ông nhỉ?”

Rabbi Shlomo Riskin đăng trên Jerusalem Post, 20/5/1988

Quay trở lại những năm 1930 ở Quảng trường Mughrabi của Tel Aviv, nơi thường có một chiếc đồng hồ to không có kính chắn trên bề mặt. Huyền thoại kể rằng một hôm Thị trưởng Meir Dizengoff yêu cầu tháo chiếc đồng hồ đó ra. Khi các cư dân trong vùng hỏi ông là tại sao, Thị trưởng Dizengoff trả lời là vì bất cứ người Do Thái nào đi ngang qua chiếc đồng hồ có thể vặn lại nó theo đồng hồ đeo tay của người đó.

Chẳng lâu sau khi đến Jerusalem thì tôi được nghe câu chuyện đó, nhưng tôi hiểu được về tính xác thực của nó như thế nào thì chỉ sau khi sống ở đất nước này một thời gian. Tôi phát hiện ra với tất cả lý do mà tôi đã liệt kê ra trong chương trước, người Israel không thể quyết định được điều gì dân tộc họ nên chịu đựng không chỉ về mặt chính trị mà còn về mặt tinh thần nữa.

Trên thực tế, điều đáng kinh ngạc nhất về nhà nước duy nhất của người Do Thái trên thế giới là nó được xây dựng, và cùng nhau nắm giữ, bất chấp thực tế là có những bất đồng cơ bản và sâu sắc giữa các công dân của mình về một người Do Thái chính xác là gì và một nhà nước Do Thái nên đặc trưng cho kiểu sống nào của người Do Thái. Tôi thường gặp nhiều người Do Thái đến từ Mỹ và Tây Âu, họ nói với tôi rằng họ đến Israel để “tìm kiếm” chính bản thân họ như một người Do Thái. Tôi luôn bảo với họ rằng Israel chắc hẳn là một nơi khó hiểu nhất trên thế giới để làm điều đó. Ở nơi đó bạn sẽ đánh mất chính bản thân mình như một người Do Thái, bởi vì nếu bạn không biết mình là ai trước khi đến, bạn có thể lạc lối hoàn toàn trong mê cung của những lựa chọn được trình ra ngay sau khi bạn đặt chân lên vùng đất này.

Giống như phần lớn những người Do Thái lai Mỹ, tôi đã lớn lên trong đạo Do Thái mà không hề có vùng đất nào – giống như những người Do Thái sống trong đạo Do Thái đã rèn tập khi bị người La Mã trục xuất khỏi Palestine hai nghìn năm trước. Đó là một đạo Do Thái quanh quẩn nơi giáo đường, lòng vòng theo các kỳ nghỉ, và quanh những cuộc gặp mặt cộng đồng. Nói một cách hóm hỉnh thì người Do Thái ở trong cộng đồng Do Thái phân biệt với người Do Thái khác chỉ qua cách họ liên hệ tới lễ nghi, đó là, cho dù họ rèn tập đạo Do Thái theo lối Chính thống, Thủ cựu, hay là Đổi mới – Chính thống vẫn được tuân theo nhiều nhất và Đổi mới thì ít nhất.

Không như vậy ở Israel. Người Do Thái ở Israel không phân biệt bằng các nhánh của giáo đường cũng như cách họ liên hệ tới vùng đất của Israel và tới nhà nước. Sự kết nối trở lại của dân tộc Do Thái với vùng đất và cao ốc của họ trong một nhà nước hiện đại ở đây mở ra một sự thiết lập mới mẻ hoàn toàn của các lựa chọn để xác định bản thân một người là người Do Thái – vài người trong số đó hoàn toàn không được biết đến trong cộng đồng Do Thái.

Vô số những lựa chọn này có thể phân ra thành bốn luồng tư tưởng chính. Luồng đầu tiên và rộng lớn nhất được hình thành từ những người Israel thế tục và không theo lệ cổ, như Shimon Peres và Yitzhak Shamir – là những người thực sự xây dựng lên nhà nước Israel mới. Những người theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục tới Israel phần nào vì một cuộc nổi dậy chống lại ông cha mình và đạo Do Thái định hướng giáo đường Do Thái chính thống ở khu định cư được thực hiện ở Đông Âu. Với những người theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục, quay trở lại vùng đất Israel, xây dựng một xã hội và quân đội hiện đại, và thực hiện các kỳ nghỉ của người Do Thái như những kỳ nghỉ mang tính dân tộc trở thành một thay thế cho buổi lễ kỷ niệm và niềm tin tôn giáo. Họ nói rằng, ở Israel, bầu trời là của người Do Thái, bóng rổ của người Do Thái, nhà nước của người Do Thái, và sân bay cũng của người Do Thái nốt, vậy thì ai còn cần phải tới giáo đường nữa? Với họ, đến vùng đất Israel và trở thành “bình thường” đồng nghĩa với từ bỏ các lễ nghi tôn giáo như đặc điểm nhận dạng cho người Do Thái của họ. Khoa học, công nghệ, và biến cả sa mạc xanh tươi thành Torah mới của họ.

Những người Do Thái thế tục này chiếm khoảng 50% dân số Do Thái của Israel, gửi con cái tới các trường học thế tục do nhà nước nắm giữ, được thuyết phục rằng họ là làn sóng của tương lai và rằng người Do Thái trong truyền thống hạn hẹp là một hồi chết chóc trong lịch sử người Do Thái. Họ sẵn sàng cho phép bất cứ người Do Thái nào trên thế giới muốn sống trong nhà nước mới của họ trở thành một công dân ngay lập tức, vì họ chắc chắn rằng giữa thế hệ có mối liên hệ với vùng đất mà những người Do Thái chính thống cực đoan này đang sống trong những khu ổ chuột tự xây ở châu Âu hay ở Jerusalem sẽ vứt bỏ áo khoác và mũ đen của họ và gia nhập vào cuộc cách mạng của Chủ nghĩa Phục quốc. Hơn tất cả, những người theo Chủ nghĩa Phục quốc tự hỏi mình, tại sao người Do Thái muốn tái tạo một khu Do Thái Ba Lan thời trung cổ trong một nhà nước Do Thái hiện đại. Không chỉ một người Do Thái thế tục nói với tôi rằng khi họ còn là một đứa trẻ, bố họ đã đưa họ tới Mea Shearim, khu vực người Do Thái chính thống cực đoan của Jerusalem, và nói với họ đại khái là: “Hãy ngắm nghía những người này chừng nào có thể. Họ là di tích của quá khứ, là loài khủng long trong nền tảng lịch sử. Giờ hãy chiêm ngắm họ đi, vì đến thế hệ khác, họ không còn nữa.”

Luồng tư tưởng chính thứ hai bao gồm những người theo Chủ nghĩa Phục quốc mộ đạo. Đó là những người Do Thái chính thống hiện đại hoặc truyền thống, họ ủng hộ hoàn toàn cho nhà nước của người theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục nhưng đòi hỏi nó không phải là vật thay thế cho giáo đường Do Thái. Họ coi nhà nước, giáo đường, và lối sống tuân theo những lời giáo huấn của kinh Torah phải phù hợp với nhau. Họ tin rằng việc tạo ra Israel là một sự kiện tôn giáo, và rằng đạo Do Thái, khi được giải thích lại trong thế kỷ XX, có thể phát triển thịnh vượng trong một nhà nước Do Thái hiện đại. Những người theo Chủ nghĩa Phục quốc mộ đạo chiếm khoảng 30% dân số Do Thái, phục vụ trong quân đội, kỷ niệm ngày Độc lập của Israel như một kỳ nghỉ tôn giáo mới, và gửi con cái tới các học viện giáo dục tôn giáo của nhà nước.

Luồng tư tưởng thứ ba cũng được hình thành bởi những người theo Chủ nghĩa Phục quốc mộ đạo, nhưng thiên về khuynh hướng Chúa cứu thế hơn. Những người theo Chủ nghĩa Phục quốc Chúa cứu thế này chiếm khoảng 5% dân số Do Thái, hình thành chủ yếu từ phong trào người định cư Do Thái Gush Emunim ở Bờ Tây. Đối với họ, việc tái sinh nhà nước Do Thái không đơn giản là một sự kiện tôn giáo; nó là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình để tiến tới đỉnh điểm là sự xuất hiện của Chúa Cứu thế. Theo quan điểm của họ, nhà nước là một công cụ cần thiết để đem lại Chúa Cứu thế, và hoạt động chính trị của Israel, các chính sách phòng thủ và đối ngoại nên dành hết cho kết cục này. Điều đó có nghĩa là, một cách cụ thể, họ sẽ định cư trên từng mét đất của Israel.

Cuối cùng là những người Do Thái chính thống cực đoan, không theo Chủ nghĩa Phục quốc, được biết đến trong tiếng Hebrew là Haredim, “những người này được nhồi nhét đầy nỗi kính sợ Chúa.” Họ chiếm khoảng 15% dân số Do Thái. Mặc dù người Haredim tuân thủ cao độ, họ không thấy trong việc tái sinh nhà nước Israel một sự kiện mang ý nghĩa tôn giáo chủ đạo. Họ tin rằng một nhà nước Do Thái đáng được tôn vinh một cách sùng đạo chỉ sau khi Chúa cứu thế xuất hiện và quy định của luật Do Thái là tuyệt đối. Trong khi chờ đợi, họ bằng lòng với việc sống trên đất của Israel, không quan tâm đến ai là người lãnh đạo – người theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục hay là người Anh đi nữa – bởi vì họ cảm thấy gần với Chúa hơn ở đây, bởi vì họ có thể thực hiện nhiều điều răn với người Do Thái hơn ở đây, và để tận mắt chứng kiến khi Chúa cứu thế xuất hiện.

Người Haredim tin rằng kể từ buổi ban đầu của Cộng đồng Do Thái hai nghìn năm trước đây, thời kỳ cực thịnh của đời sống người Do Thái, và nhận ra rằng nó đã được hoàn thiện bởi những triều đại của các giáo sĩ và yeshiva hồi thế kỷ XVII, XIX, và XX huy hoàng trong các đô thị và khu dân cư Do Thái ở Đông Âu, nó cách biệt trên diện rộng với Thế giới Không phải người Do Thái bao quanh. Họ đã cố gắng tái tạo cuộc sống này ở Israel. Đó là lý do tại sao cánh đàn ông của họ vẫn mặc áo khoác tối màu và đội mũ lông như những quý ông Đông Âu hồi thế kỷ XVIII. Thậm chí họ còn đặt tên cho nhiều yeshiva ở Israel theo tên các đô thị ở Đông Âu mà họ xuất phát từ đó. Họ cũng thích nói tiếng Yiddish, ngôn ngữ của người Do Thái Đông Âu hơn là tiếng Hebrew, và phần lớn trong số họ không cho con trai và con gái đi phục vụ quân đội và cũng không kỷ niệm ngày Độc lập của Israel. Họ sẵn sàng phục vụ trong nghị viện Israel hoàn toàn chỉ vì mục đích nhằm thúc đẩy chiến dịch của riêng họ để khiến cho xã hội Israel mộ đạo hơn và để giành được những quỹ nhà nước nhằm hỗ trợ cho mạng lưới giáo dục cá nhân của họ với các yeshiva.

Bốn mươi năm trước, khi các ông bố người Israel thế tục lôi con trai tới Mea Shearim để cho chúng thấy người Haredim trước khi họ được cho là biến mất, điều họ không biết là người Haredim cũng đang lôi con trai của họ tới khu vực của những người thế tục ở Jerusalem và nói với chúng rằng: “Hãy nhìn những người Do Thái thế tục rỗng tuếch này! Đến đời sau họ sẽ nhận ra rằng sự trở lại của người Do Thái đến vùng đất của họ không phải là một hành động chính trị mà là một hành động tâm linh – và điều này đòi hỏi sự đáp lại mang tính tâm linh. Bốn mươi năm nữa, họ sẽ giống hệt chúng ta.”

Thực tế, mỗi một trong bốn luồng tư tưởng chính này ở cuộc tranh luận lớn lao về nhận dạng người Israel đã bị thuyết phục rằng những nhóm khác sẽ bị tàn lụi đi thành một nhóm mà họ không bao giờ muốn, hay có thể, cùng ngồi xuống và nghĩ ra sự đồng tâm nhất trí về ý nghĩa của nhà nước Israel và đất của Israel thuộc về dân tộc Israel. Kết quả là, các cách nhìn nhận khác nhau phát triển kề vai sát cánh bên nhau. Israel cùng lúc trở nên thế tục hơn, chính thống hơn, trần tục hơn và theo Chúa Cứu thế hơn. Tiến xa khỏi việc xây dựng một “nhận dạng người Do Thái mới”, hay một “người Do Thái mới”, Israel dường như đã đưa ra khỏi nền tảng của lịch sử Do Thái từng lựa chọn mang tính tinh thần của người Do Thái từ quá khứ ba nghìn năm trước; đất nước trở thành một bảo tàng sống của lịch sử Do Thái. Đó là lý do tại sao Israel ngày nay còn có yeshiva Haredi kiểu Lát-vi còn hơn cả những người Do Thái từng quay trở lại từ Lát-vi, đồng thời nó cũng chỉ có một quán bar phóng túng của người Do Thái và một cửa hàng lướt sóng duy nhất của người Do Thái.

Trong vòng bốn mươi năm qua, không gì khiến cho các xu hướng hoàn toàn khác nhau của người Do Thái mọc lên trong căn nhà kính Israel kịch tính hơn chiến dịch bầu cử toàn quốc diễn ra hồi tháng Mười một năm 1988, lôi kéo hai mươi bảy đảng phái khác nhau tranh giành nhau 120 ghế của Hội đồng lập pháp Israel. Trong suốt cuộc tranh đua, thủ lĩnh tinh thần Lubavitcher, Menachem Mendel Schneerson, sống ở Brooklyn, để sự ủng hộ của mình cho Đảng của Agudat Yissrael chính thống cực đoan. Vị thủ lĩnh tinh thần thể hiện sự hỗ trợ của mình với một loạt những quảng cáo kín trang trên báo chí Israel mời các cử tri điền vào một phiếu cam kết rằng họ sẽ bỏ phiếu cho Agudat và gửi phiếu đó cho ông ta. Đổi lại, vị thủ lĩnh tinh thần hứa sẽ chúc phúc cho cử tri đó – một lời chúc phúc mà cử tri nhận được là “mạnh khỏe, sống lâu, hạnh phúc, và thành công trên mọi phương diện.” Trong khi đó, một trong những đối thủ chính của thủ lĩnh tinh thần, cựu trưởng nhóm giáo sĩ Sephardic, Ovadia Yosef, thực hiện một quảng cáo trên truyền hình cam kết những lời chúc phúc giống như vậy và còn thêm “nhiều con trai” cho bất cứ ai bỏ phiếu cho Đảng Shas của ông ta. Tuy nhiên, một phần quảng cáo của Rabbi Yosef bị ban bầu cử kiểm duyệt – trong phần đó ông ta cảnh báo rằng, “Bất cứ ai không bỏ phiếu cho Shas – sẽ bị trừng phạt bởi Đức Thánh đã ban phúc cho ông ta.” Không kém cạnh, Agudat Yisrael cho in các tấm bưu thiếp với ảnh của một người Do Thái Ma-rốc sùng đạo đã chết, Baba Sali, một người Israel tương đương với Father Divine (Ông tổ của các vị thần thánh), tôn sùng sức mạnh hàn gắn và tài tiên tri của ông ta. Mặt sau của tấm bưu thiếp được in: “Không nghi ngờ gì nữa đây là Baba Sali từ trời cao đang chúc phúc cho tất cả những ai ủng hộ và bỏ phiếu cho Agudat Yisrael.” Hai đảng phái chính thống cực đoan thề sẽ không ăn hoa quả cho đến khi kết thúc cuộc bầu cử để mang vận rủi tới cho đảng đối lập, Degel Hatorah, với biểu tượng là một loài cây ăn quả. Ở mé bên kia của dải quang phổ chính trị, Đảng Shinui (Thay đổi) thế tục, tự do đăng một quảng cáo kín trang thể hiện không chỉ sự đứng đầu đặc biệt lôi cuốn của người Do Thái Chính thống cực đoan, mà còn với cả một mé dài trên cả tiêu đề: ANH TA ĐÃ HẾT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ VÀ QUẤY NHIỄU BẠN TRONG THỜI GIAN ĐÓ RỒI.

Xem những quảng cáo của cuộc vận động này, tôi bắt đầu hiểu điều gì một người bạn Israel của tôi ám chỉ khi nói, “Cầu nguyện để tập hợp những người tha hương lại dễ hơn rất nhiều so với việc chung sống với họ.”

Tôi cũng bắt đầu hiểu được sao đôi khi lại thấy mệt mỏi thực sự khi là một người Do Thái Israel. Một chiều tháng Sáu năm 1988, tôi ngồi ở nhà của sử gia người Israel, Ya’acov Shavit tại Ramat Aviv, cố gắng tính xem đó là mấy giờ ở Israel. Trong lúc luồng ánh sáng chiếu bùng vào chúng tôi qua cánh cửa mở và cô con gái mười bảy tuổi, Noga của ông đang chuẩn bị bữa trữa trong gian bếp, Shavit tranh luận về các khuynh hướng sống trong một quốc gia nơi mà tất cả những chiếc đồng hồ vẫn còn mở mặt kính.

Ông kể, “Tôi phải nói với anh rằng, tôi chỉ trở về hai năm trước từ nước Đức. Đó là thiên đường. Đó là nước Đức thôi, nhưng đó là thiên đường. Không có tin tức. Không có ai chờ đợi Chúa Cứu thế. Thật là thoải mái. Ở đây, anh sống trong một nhà nước sôi động thật sự. Anh luôn bị lôi kéo vào mọi chuyện. Luôn phải lắng nghe tin tức. Anh chẳng thể nào thoát ra khỏi được những tham vọng không tưởng của cánh tả hoặc những mong đợi Chúa Cứu thế của cánh hữu. Anh không bao giờ được thoải mái cả. Mọi người luôn luôn tranh cãi về nhận dạng của anh. Mọi người luôn luôn yêu cầu anh phải quyết định. Anh là người Do Thái à? Được rồi, người Do Thái loại nào? Anh là người theo Chủ nghĩa Phục quốc à? Được rồi, Chủ nghĩa Phục quốc loại nào? Anh bật ti vi lên và mọi người đang tranh cãi về những vùng biên giới, về đường biên giữa tôn giáo và nhà nước – không có gì được giải quyết ở đây. Anh không thể nào mà thư giãn nổi.”

Lúc đó Noga ló đầu ra khỏi gian bếp, nơi cô bé vẫn đang lặng lẽ gọt vỏ khoai tây, và hét vọng lên phòng với bố, “Bố ơi, đó là một nơi vui vẻ mà.”

“Ừ, vui vẻ,” Shavit trầm ngâm, ngước mắt nhìn lên với vẻ mặt của một người chỉ có thể làm bớt hài hước đi một chút.

“Dù sao đi nữa thì bố ơi,” Noga nói thêm, vẫn giữ vững lập trường, “bố không biết là người ta phạm sai lầm dẫn đến tự sát ở Thụy Sĩ nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới à?”

Israel muốn không bao giờ phải lo lắng về nỗi buồn chán đến mức tự sát cả.

Để có hiểu biết hơn nữa về bốn quan điểm chính đang cạnh tranh nhau về tâm hồn Do Thái của Israel, tôi đã hỏi bốn người quen – tất cả đều từng là người Mỹ, tất cả đều bị lôi kéo đến Israel vì những lý do Do Thái hoàn toàn khác biệt – rằng dù sao đi nữa, thì thành phố này thuộc về ai?

Nếu như trường Rimon về nhạc Jazz và Âm nhạc Đương đại ở Tel Aviv – trường đại học đầu tiên và duy nhất của Israel về rock ‘n’ roll – có một biểu ngữ của trường, thì khẩu hiệu vắt ngang ở chính giữa sẽ được viết bằng tiếng Hebrew lạ lùng thế này: “Người Do Thái chỉ muốn vui vẻ.”

Trường Rimon là hiện thân cụ thể của quan điểm rằng Israel là tụ hợp của nhiều người Israel phương Tây hóa thế tục, là nơi tự do thực hiện các bổn phận tôn giáo và bình thường theo cách của những người Pháp thông thường – bình thường một cách thoải mái, bình thường một cách tẻ nhạt, và bình thường theo kiểu đi tới bờ biển và xem ca nhạc rồi bật bia uống vào các cuối tuần. Điều mà những người cùng chung quan điểm này thích thú nhất ở Israel là sự nhiệt tình và bầu không khí an toàn kiểu gia đình trong cuộc sống ở cộng đồng người Do Thái, nhưng họ muốn sự nhiệt tình của khu người Do Thái không có sự cách ly, không có Bão táp và Tấn công không ngừng nghỉ, và đa phần trong số họ không có các giáo sĩ Do Thái. Họ muốn trường Rimon thôi.

Khu vực trường sở Rimon giống như một căn cứ quân sự đã điêu tàn – những tòa nhà xấu xí bị sụm xuống với lớp sơn trắng bị tróc ra và bãi cỏ hàng tháng ròng chả cắt; nó đã từng là một ngôi trường bị tổn thương về tinh thần. Vài người Do Thái Chính thống cực đoan nghĩ rằng nó vẫn như vậy. Các phòng học luyện nhạc rock có một hầm trú ấn ngầm bằng thép và bê tông nổi tiếng cả trường với tên gọi “phòng heavy-metal.” Ngày tôi đến thăm nơi này, tôi thấy một nhóm ngẫu hứng đang chơi nhạc làm rung cả những bức tường dày tới hai bàn chân, chơi “Johnny B. Goode” và một vài giai điệu ưa thích xưa cũ của người Israel, “Me and My Surfboard” (tạm dịch: Tôi và Ván lướt sóng), được coi là bài hát về lướt sóng đầu tiên bằng tiếng Hebrew kể từ khi Mose vượt Biển Đỏ cùng với Những người con của Israel ca hát trong chuyến đi của ông. Ban nhóm ngẫu hứng này là nhóm rock ‘n’ roll Chủ nghĩa Phục quốc thuần túy: ca sĩ chính đến từ Tunisia, với đôi mắt huyền mặc một chiếc áo thun cộc tay quá cỡ, đi đôi giày màu đỏ cao gót; người chơi saxophone thì đến từ Argentina; tay chơi guitar chính đến từ Long Island; và người chơi organ điện tử có nguồn gốc gia đình ở Ba Lan. Trường Rimon là nơi hội tụ tinh thần của Elvis Presley với quan điểm của Theodor Herzl.

Bắt đầu từ năm 1984, bốn ngôi sao nhạc rock và jazz người Israel dốc sức đưa ra một chương trình nghiêm túc cho giới trẻ Israel quan tâm tới việc nghiên cứu âm nhạc đương đại, Rimon có các lớp về sáng tác âm nhạc, thanh nhạc, guitar jazz, rock, và soạn nhạc, cùng nhiều lớp chưa liệt kê nữa. Đến năm 1988, trường có 25 khoa và 135 sinh viên và đều đã tốt nghiệp khóa đầu tiên của hệ ba năm. Trường cũng được bao cấp một phần nhờ Bộ Giáo dục Israel. Ai nói rằng Israel đã đánh mất đi tâm hồn của nó? Người ta chỉ không biết tìm nó ở chỗ nào mà thôi. Yuval Nadav Haimovitz, một sinh viên thanh nhạc và là thành viên của nhóm hát a cappella lưu động của trường, nói với tôi rằng cậu ta được thuyết phục rằng trường Rimon chính là đại diện cho điều được cho là cốt lõi của Chủ nghĩa Phục quốc.

“Tôi nghĩ Herzl rất vui mừng,” Haimovitz nói với vẻ tin tưởng thật sự. “Tôi nghĩ rằng ông ấy muốn nơi này là một quốc gia giống như bất cứ quốc gia nào khác. Nếu chúng ta có một trường như thế này thì rồi Israel sẽ trở thành nơi như mong muốn của Herzl.”

Đó đương nhiên cũng là điều mà Ze’ev Chafets mong muốn. Ze’ev chính là người đầu tiên kể cho tôi nghe về trường Rimon. Nếu Theodor Herzl và Janis Joplin đã từng có một đứa con chung, thì đó chính là Ze’ev; thậm chí trông anh ta giống như một đứa con lai giữa hai người. Là người gốc Detroit, Chafets có sự khôn ngoan của triết gia người miền biển đã khiến cho khoảnh khắc của con người bình thường và đôi tai tinh tế của một ngôi sao nhạc rock thất bại biết rõ điều gì khiến cho người ta nhảy múa. Lần đầu tiên tôi biết Ze’ev khi quay lại vào đầu những năm 1980, khi anh đang lãnh đạo Cơ quan Báo chí của Chính phủ cho Thủ tướng Menachem Begin; bây giờ anh kiếm sống bằng viết sách. Qua vài cốc bia Goldstar ở quán yêu thích của anh, Bonanza Bar, cách đường Dizengoff ở Tel Aviv một đoạn, giờ đây Chafets ở tuổi bốn mươi, rít một điếu xì gà to tướng và nói về Israel của riêng mình, một nơi dành cho những người Do Thái chỉ muốn được vui vẻ.

“Tôi đến đây năm 1967,” Chafets nói. “Tôi học Đại học Michigan. Năm thứ nhất, tôi trở thành một sinh viên và học tiếng Hebrew. Tôi đã nghĩ đến việc trở thành một giáo sĩ, anh biết đấy, thật là vớ vẩn. Đến thời kỳ của người Mỹ, đó là những năm 1960 và mọi người đều đi đâu đó. Vài bạn bè của tôi bỏ học, một vài người thì đi Canada, một vài người thì đến Lực lượng Hòa bình, còn một vài người lại tới sa mạc và hút thuốc phiện suốt đời. Tôi đi khắp nơi như mọi người, và tình cờ đặt chân tới đây. Đây là nửa Easy Rider của nó.”

Trong khi giải thích vì sao Chafets tới Israel, anh cũng nói điều khiến anh trở thành thứ gì đó khó hiểu hơn, chính là thứ gì thực sự mang tính sắc tộc. Đó cũng chính là cảm giác thúc đẩy những người Do Thái lai Mỹ nhiệt liệt hoan nghênh khi chiếc máy bay El Al của họ hạ cánh an toàn ở Tel Aviv. Họ hoan nghênh ý tưởng điên rồ rằng một chiếc máy bay của người Do Thái hạ cánh trên đường băng của người Do Thái tại một sân bay của người Do Thái. Đã ai từng nghe điều tương tự như vậy trước năm 1948 hay chưa? Đó chính là thứ keo dính đã gắn kết nhiều người Israel với mảnh đất này – không phải Kinh Thánh, và cũng chẳng phải tôn giáo, mà là thi vị của một sân bay của người Do Thái.

“Điều thực sự giữ cho nơi này chìm mãi xuốngdưới đáy,” Chafets giải thích khi những khách hàng khác trong quán bar la hét những lời chào mừng với anh, mà không phải lời nào cũng thích hợp để ghi ra đây, “đó không phải là nền dân chủ. Cũng không phải là Chủ nghĩa Phục quốc. Cũng không phải là bất cứ hệ tư tưởng hay hệ thống nào. Đó là ý thức đoàn kết mang tính sắc tộc của người Do Thái. Trong hai nghìn năm, cả dân tộc này đã khóc lóc, cầu khẩn, và van xin Thượng đế ban cho họ một đất nước. Tôi muốn được nhìn thấy nó, nhưng khi tới đây tôi nhận ra rằng Israel vang vọng trong tôi. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng tôi cảm thấy nơi đây như nhà mình, cho dù là những con người ở đây không hề giống như những người đã lớn lên cùng tôi. Khi những người Ma-rốc đầu tiên tới Israel, đây chính là điều khiến họ thường xuyên hay đi dạo trên đường phố. Mọi người sẽ hỏi vì sao. Họ không có vỉa hè ở Ma-rốc hay sao? Không. Căn nguyên ở đây là đây là đất nước họ. Ở đây không có chủ đồn điền nào cả. Giờ thì họ có thể đi trên bất cứ đường phố quái nào mà họ thích. Chính tôi cũng có chút ít cảm giác này. Israel chính là cách những người Do Thái cư xử khi họ rời khỏi các đồn điền – khi không còn những người không phải dân Do Thái xung quanh nhìn chằm chằm vào họ nữa. Tất cả mọi điều ở đây khiến cho người Mỹ phàn nàn thì tôi thấy thích thú. Tôi thích cách cư xử không lịch sự. Tôi thích sự thẳng thắn, tôi thích sự sôi động, và adrenalin. Tôi cảm thấy thoải mái với những con người này. Tôi không bao giờ thực sự chỉ rõ được nó, nhưng một cách vô thức tôi xuống máy bay và tự nhủ với mình, Chính là nơi này. Mình thuộc về đây.”

Vậy thì anh làm gì để được vui vẻ?

“Tôi vui cực kỳ luôn; ví dụ như kết hợp cùng với vài nhạc sĩ hàng đầu ở Israel và chơi rock ‘n’ roll, thỉnh thoảng thì chơi cho những bữa tiệc linh đình. Tại sao ư? Vì đó là những điều mà ở Mỹ chẳng bao giờ tôi làm được cả. Trước lễ Yom Kippur hàng năm, tay phục vụ quầy rượu Shaul cùng tôi với một vài người khác đi ra phố Dizengoff ngồi, chúng tôi uống bia và ăn hummus, và khi có những người đi qua – nếu chúng tôi biết họ, và rồi chúng tôi sẽ dần dần say tí bỉ, thì kể cả khi chúng tôi có không biết họ đi nữa – chúng tôi sẽ chặn họ lại và bảo rằng, ‘Nếu tôi đã làm điều gì sai trái khiến anh khó chịu trong năm nay, tôi xin lỗi nhé. Hãy tha lỗi cho tôi.’ Thật là vui cực kỳ luôn, mọi người đều mỉm cười, rồi cười phá lên và bảo rằng, ‘Vầng, tôi cũng thế, người anh em ạ. Cũng tha thứ cho tôi nhé,’ và họ đi tiếp. Tôi thích được thức dậy vào các sáng thứ Bảy, lang thang ra ngoài bãi biển cùng với vài bạn bè cặp bồ chung với một ả người Tusini. Anh cảm nhận được phần Địa Trung Hải thuộc về đất nước này. Những bước đi chậm rãi, khoái lạc với đám đàn bà, bầu không khí sôi nổi, những sắc màu. Israel là đất nước duy nhất mà các cô gái Puerto Rican đều là người Do Thái. Thật là vui khi được chứng kiến đội bóng rổ của Israel đánh bại được đội tuyển Nga năm 1977. Không chỉ vì nó là trận đấu tuyệt vời mà vì chúng ta đã chống lại họ. Một mặt đó chính là Tal Brody [cầu thủ ngôi sao của đội tuyển Israel] và những cầu thủ khác đã đánh bại được đội tuyển Nga, một đội tuyển của một quốc gia lớn, và cần ghi nhớ rằng, mặt khác chính ông cha tôi đã đánh bại họ. Đó là một chiến thắng trong quá khứ của chúng ta đã vượt mặt được cả người Cô-dắc. Và tất cả chúng tôi đều hiểu nó theo cách đó. Không ai cần phải nói về nó cả. Nghe thật là ủy mị khi nói điều này với nhau, nhưng chúng tôi đều hiểu nó theo cách đó.”

Một trong những điều tôi luôn thấy thích thú ở Chafets, một trong những lý do khiến anh ta tiêu biểu cho một giọng điệu nào đó, rất phổ biến của người Israel, đó là anh ta luôn có một tinh thần hài hước về Israel. Anh ta luôn hiểu được rằng phần lớn những người Israel không phải là những anh hùng, không tính đến những người sùng đạo, thì cho dù họ có muốn trở thành anh hùng cũng không được, mà người ta chỉ cố gắng qua được tháng này, kéo dài thêm được chút ít hạnh phúc, ôm ấp ăn nằm – thường không phải là với bạn đời của mình – và tới thăm nước Mỹ ít nhất ba năm một lần. Tư tưởng của họ chỉ bó hẹp trong phạm vi nhận thức rằng họ đang làm tất cả những điều này trong một nhà nước Do Thái, phục vụ quân đội và làm lễ chào cờ.

“Nào, anh có thể nói, Ồ, nếu anh muốn được vui vẻ thỏa thích, tại sao anh không tới California?” Chafets tiếp tục, tiên liệu trước câu hỏi của tôi. “Tại sao lại sống ở Israel? Tôi muốn được vui vẻ và tôi cũng muốn sống trong một quốc gia của người Do Thái – để dự phần vào đó. Nói một cách công bằng thì mục tiêu của tôi cũng như của một người theo Chủ nghĩa Phục quốc là sống trong một nhà nước Do Thái, và chưa từng được sống trong một kiểu nhà nước Do Thái riêng biệt nào. Với tôi, sống trong một quốc gia là thuộc về gia đình mình và được nó chăm sóc, thế là đủ. Và nếu gia đình tôi quyết định rằng nó cần phải buôn bán lông thú thay vì buôn bán thuốc men, thì cũng được thôi. Đó là lý do tại sao nó chưa bao giờ thực sự đưa ra một bất đồng mang tính chỉ trích với tôi về những gì chính phủ ở đây đang làm như vậy. Anh thường nghe thấy người ta nói rằng, Nếu Sharon trở thành Thủ tướng Chính phủ, tôi sẽ ra đi. Cảm giác của tôi là không ở trong hoàn cảnh đó thì tôi mới đi, còn gì hơn nữa khi bất kỳ người nào lại rời khỏi đất nơi mà họ thuộc về nó. Tôi nghĩ giống như trong cuốn The French Connection (tạm dịch: Mối liên hệ của người Pháp) khi Popeye Doyle nói về viên cảnh sát người Pháp này, và viên cảnh sát người Pháp thì đang ba hoa về Marseilles, và Popeye nói rằng, ‘Tôi thà ngồi trên bãi rác để có thể ở New York còn hơn làm thị trưởng Marseilles.’ Không phải là công kích các quốc gia khác, nhưng tôi thà ngồi trên bãi rác để có thể ở đây còn hơn là sống ở bất cứ một nơi nào khác.

“Sinh trưởng ở Mỹ tôi ý thức được rất rõ về khoảng cách – mà tôi nghĩ trong đó là một đất nước tốt đẹp – giữa lời nói và hành động, giữa lý tưởng và thực tiễn. Vì vậy tôi không nghĩ đất nước này sẽ trở thành một nơi lý tưởng để vui vẻ. Giống như ai đó đã nói, ‘Tôi không thể sống với một phụ nữ nếu cô ta không hoàn hảo,’ còn người khác dễ tính hơn thì bảo rằng, ‘Anh biết không, có thể cô ấy hơi béo một chút, và có thể cô ấy hơi ngốc nghếch nữa, nhưng anh biết đấy, thế quái đi nữa thì tôi vẫn yêu cô ấy.’ Tôi cảm nhận về Israel theo cách đó. Hai mươi năm trước, lần đầu tiên tôi tới đây, mọi người ở đây vẫn còn giữ hình ảnh phô trương kiểu như vậy về đất nước, nhưng nó quá khổ hạnh, đòi hỏi quá khắt khe để kéo dài đối với hầu hết mọi người. Những thứ anh nhìn thấy bây giờ là sự nới lỏng những xiềng xích của kỷ luật và tư tưởng. Giống như một phụ nữ tháo bỏ được chiếc thắt lưng sau buổi tiệc tùng. Mọi người đã hy sinh trong một thời gian dài, họ muốn được thư giãn đôi chút. Một trong những bài học lớn của tôi về Israel là những người Do Thái là những con người phàm tục. Chúng tôi không phải là những khuôn mẫu, chúng tôi cũng không phải là tác phẩm của Bernard Malamud.

“Chúng tôi chính là thứ này,” Chafets tuyên bố, dứ nắm đấm về phía quán bar giờ đây đã đông nghịt. “Đã bao nhiêu lần anh thấy một quán bar chỉ toàn dân Do Thái hả?”

Nhưng sống thế nào ở trong một nhà nước Do Thái âm vang quá sâu sắc trong lòng anh, đồng thời anh lại hoàn toàn không tuân thủ như một người Do Thái? Tôi hỏi. Dường như bạn cũng đồng ý với những người cho rằng bầu trời ở Israel là của người Do Thái, khi ở đây bạn không phải tuân thủ cái gì nữa hết.

“À, đây là vài điều về chuyện đó. Một trong những điều lớn lao nhất về Israel với tôi là cho phép tôi không phải là người Do Thái nữa, không phải tuân thủ gì nữa,” Chafets trả lời. “Nó giống như sự khác biệt giữa người phải trả tiền thuê nhà hàng tháng với người mua hẳn một ngôi nhà. Giờ đây nó là của tôi. Tôi không phải tiếp tục là một người Do Thái ngoan đạo để phân biệt bản thân mình với những người không phải người Do Thái nữa. Khi ở đây, tôi không phải nghĩ, người phụ nữ mình gặp có phải là người Do Thái không nhỉ? Tôi không quan tâm nếu cô ta có phải là người Do Thái không, bởi vì nếu tôi gặp cô ta ở đây, và cô ta có thể nói tiếng Hebrew và sống trong xã hội này, cô ta đủ Do Thái với tôi rồi. Tôi không phải lo lắng về việc ăn thức ăn Do Thái để chứng tỏ sự thống nhất về mặt nấu nướng. Tôi không cần một món ăn ngon để thể hiện mình là người Do Thái. Và vì lý do tương tự, tôi cũng không cần một giáo đường. Cả đất nước này là giáo đường của tôi rồi. Phần giáo đường mà tôi luôn yêu thích là phòng sinh hoạt cộng đồng, và nhà bếp – anh thấy đấy, chứ không phải là nơi thánh đường. Và sống ở đây đã là một sự cứu vớt rồi. Tôi có thể là chính mình và người Do Thái mà không phải nghĩ ngợi về chúng suốt nữa. Nếu anh muốn là một người Do Thái ở Mỹ, anh phải nhất trí hoàn toàn với luật chơi Do Thái kiểu Mỹ – có nghĩa anh phải là một thằng cu ngoan ngoãn. Israel là đất nước duy nhất anh có thể là người Do Thái mà không cần phải thích nghi. Nếu anh không muốn là một bác sĩ nhãn khoa và cũng chẳng muốn là một luật sư thì anh vẫn muốn là người Do Thái – đây chính là nơi để làm điều ấy.”

Đừng cố gắng có một quầy báo ở nơi không phù hợp.

Shimon Tsimhe từng có một quầy báo tiếng Hebrew bán chạy nhất ở B’nei B’rak – trước khi bị đánh bom. Giờ đây anh xóa bỏ nó bằng quầy bán sandwich vừa đủ sống.

B’nei B’rak là khu vực ngoại ô của người Do Thái chính thống cực đoan ở Tel Aviv mà dân cư chỉ có người Haredim. Chỉ mất khoảng hai mươi phút lái xe từ Bonanza Bar tới đó – hai mươi phút và khoảng hai trăm năm, có nghĩa là cuộc sống của người Do Thái ở B’nei B’rak hiện nay có nhiều điểm chung với cuộc sống của người Do Thái ở Lát-vi hồi thế kỷ XVIII hơn bất cứ điều gì đang xảy ra ở miền bắc Tel Aviv. Nếu họ muốn làm bộ phim Hester Street ở đây thì họ cũng chẳng cần phải mang theo nhiều đạo cụ hay trang phục lắm.

Chuyến thăm B’nei B’rak đầu tiên của tôi bị thôi thúc bởi một mục nhỏ trên tờ Jerusalem Post về Tsimhe. Một nhóm rất nhỏ những người Haredim ở B’nei B’rak quyết định thanh lọc toàn bộ những quầy báo trong khu vực của mình đang bán những tờ báo của người Israel ủng hộ những người theo Chủ nghĩa Phục quốc, không có tính chất tôn giáo. Cộng đồng sùng đạo ở Israel có báo chí riêng của họ, không chỉ tập trung vào những tin tức quan trọng với họ - như vị giáo sĩ nào đang trụ trì yeshiva nào hoặc những quảng cáo của các vị làm mối hôn nhân – mà còn đăng tải những quảng cáo khắt khe nhất và đưa ra một quan điểm hết sức mù mờ với những tin tức về nhà nước thế tục.

Tsimhe đã rút ra được điều này với giá đắt. “Tôi đã bán rất nhiều loại báo – nhiều lắm ấy,” anh nói với tôi vào một chiều, khi đổ hàng đống những viên đậu xanh nghiền vào chiếc chảo ngập mỡ, căng thẳng nhìn trước ngó sau để chắc chắn rằng không có người Do Thái chính thống cực đoan trong chiếc áo choàng đen nào đang đợi sẵn ở trong trạm xe bus để nghe trộm cuộc trò chuyện của chúng tôi. “Tôi là chủ sạp lớn nhất cả vùng chứ không chỉ ở B’nei B’rak. Thứ Sáu hàng tuần tôi bán được năm trăm tờ Yediot Achronot và Ma’ariv. Tôi thu được 15% mỗi tờ.”

“Nhưng rồi những mối đe dọa bắt đầu,” Tsimhe kể, một người đàn ông gày gò đội chiếc mũ hành lễ màu đen xộc xệch trên đầu. Rồi một quả bom – chỉ nhỏ thôi. Ai đó đã đặt ngay trước quầy báo. Nó không phá hủy hoàn toàn quầy báo nhưng đủ mạnh để gạch vỡ và mảnh đạn bay sang bên kia đường, phá tan cửa sổ của cửa hàng cắt may. Người thợ cắt may chẳng vui vẻ gì, còn Tsimhe thì được một phen hú hồn. Phía sau quầy báo của Tsimhe, một nhóm những người Haredim đã cầm chân anh một ngày để thuyết phục anh rằng tốt nhất là không bán những tờ báo ngày như Yediot và Ma’ariv nữa, ai đó còn huỵch toẹt viết nguệch ngoạc bằng sơn xịt rằng: DỪNG ĐẶT BÁO NGAY.

Tại sao anh không báo cho chính quyền? Tôi hoài nghi hỏi anh.

“Họ nói rằng tốt hơn là tôi không bán báo nữa,” Tshim trả lời. “Họ nói rằng tốt hơn là tôi bán falafel ấy.” (Chính quyền địa phương thì cũng do người Haredim lãnh đạo.)

Rồi nở một nụ cười như trên chiếc mặt nạ cho ngày lễ Halloween, Tsimhe đột ngột quay trở lại phục vụ những khách hàng người Do Thái chính thống cực đoan của anh, và bảo tôi, “Làm ơn đi đi. Tôi đã có đủ rắc rối rồi.”

Khi tôi bước xuống con phố chính của B’nei B’rak, đã cách xa chỗ của Tsimhe, tôi quyết định sẽ tiến hành một cuộc khảo sát vỉa hè nho nhỏ. Tôi dừng một người đàn ông Do Thái chính thống trông có vẻ hiện đại đang cắp chiếc cặp và đội chiếc mũ được đan theo kiểu ưa thích của những người Do Thái sùng đạo theo Chủ nghĩa Phục quốc.

“Xin lỗi,” tôi hỏi to, “ông có biết chỗ nào quanh đây bán báo để tôi có thể mua một tờ Ma’ariv được không?”

Mắt ông ta vụt mở to ra như thể là tôi vừa hỏi chỗ chơi gái vào buổi đêm không bằng. Ông ta vẫn bước đi, nhưng gật đầu ra hiệu cho tôi tiến lại gần để ông ta có thể nói thầm với tôi.

“Ông không biết chuyện gì đang xảy ra ở B’nei B’rak à?” ông ta rít lên. “Đó là sự khủng bố, sự khủng bố của những người chính thống cực đoan.”

Rồi vẫn không hề dừng bước, ông ta đưa mắt ra hiệu cho tôi chú ý vào tập tài liệu mỏng mà ông đang để trong chiếc cặp của mình. Ông ta hé tập tài liệu ra chỉ một khe nhỏ, như thể những người buôn bán ma túy chào bán cho tôi một ít cocain. Khe hở để lộ ra một tờ Yediot, tờ báo bán số lượng lớn nhất Israel, gập gọn trong tập tài liệu. Ông ta nở một nụ cười tinh quái rồi nhanh chóng sải bước đi, chìm khuất trong dòng của những chiếc áo choàng và mũ màu đen.

Tôi thấy toàn bộ sự việc này gây phiền nhiễu cho việc nói về sự gia tăng quyền lực của những phần tử cực đoan trong cộng đồng Haredi, và tôi sử dụng nó như một nền tảng cho câu chuyện dài trên Times về cuộc đấu tranh ở Israel giữa người Haredim và người Do Thái thế tục. Ngay sau khi tôi viết bài báo đó, tôi bị lụt trong đám thư điện tử căm phẫn từ những người Do Thái chính thống cực đoan ở Mỹ và Israel, những người cảm thấy tôi đã phỉ báng cộng đồng của họ, họ nói rằng chỉ có một phần nhỏ trong số những người đó là kiểu người đã biến Tsimhe từ một người bán báo thành người làm falafel sau một đêm. Tôi phản hồi bằng đặt câu hỏi tại sao, nếu phần đa những người Do Thái chính thống cực đoan ở Israel đều là những người rất ôn hòa, nhiều người trong số họ - bất kỳ ai đó trong số họ - đã không đứng lên bảo vệ quyền lợi cho Tsimhe để anh ta được bán báo. Tôi không nhận được câu trả lời. Tuy nhiên, có một người trong số những người phản đối đã không chịu bỏ cuộc. Ông ta lịch sự, thậm chí là cuốn hút nữa, nhưng kiên quyết đến tàn nhẫn trong việc giáo dục tôi về công trạng của cộng đồng Haredi.

Tôi không phải là công cuộc cải tạo đầu tiên của Giáo sĩ Nota Schiller. Schiller là giám đốc yeshiva Ohr Somayach ở Jerusalem, một viện của người Do Thái dòng chính thống cực đoan chuyên đem những người Do Thái đã xa rời khỏi đạo Do Thái quay trở lại học kinh Torah. Vài người quy kết rằng ông ta đang vận hành một nhà máy tẩy não người Do Thái, nhưng Schiller quyết liệt phủ nhận nhiệm vụ này, mặc dù cần phải thêm rằng, mỉa mai thay vài người Do Thái rất muốn có bộ não được tẩy sạch. Ohr Somayach hẳn là bộ mặt tự do nhất của đạo Do Thái Haredi ở Israel; sự ôn hòa và cởi mở của nó trong đối thoại không phải là điển hình cho cộng đồng Haredi. Tuy nhiên, khi Schiller mời tôi dành một ngày ở yeshiava của ông để chứng minh cho tôi thấy rằng người Haredi có một tầm nhìn về Israel rằng nó năng động, hấp dẫn, và không hề bó buộc như bất cứ người theo Chủ nghĩa Phục quốc nào, tôi đã quyết định nhận lời ông.

Tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng vị giáo sĩ người Brooklyn này, với tấm bằng cử nhân văn học Anh và tâm lý học của Johns Hopkins, đã mang phẩm chất đáng mến của Madison Avenue nhất định gán cho đạo Do Thái chính thống. Chúng tôi bắt đầu nói về yeshiva của ông – được thành lập từ năm 1972 và tọa lạc trong một dãy chung cư hiện đại ở khu vực Đồi French của Jerusalem – theo như giải thích của Schiller thì tại sao cộng đồng của ông lại bị phỉ báng.

“Người Do Thái sẽ không bao giờ xây nó ở đây, cạnh những bờ biển này,” Schiller bắt đầu, vị giáo sĩ tự đến Israel lần đầu tiên năm 1961 khi còn là một sinh viên hai mươi tư tuổi, “nếu như nó không phục vụ cho việc học tập ở trong các yeshiva ở Đông Âu và vì thực tế là thế hệ ông cha của người Do Thái theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục lập ra đất nước này đã sống theo cách mà tôi sống. Người Israel vẫn ở đây như những người Do Thái chỉ vì lối sống kiểu chính thống mà tổ tiên họ đã dẫn dắt. Giống như cha ông họ đã gửi tiền vào ngân hàng, và bây giờ thế hệ này đang viết séc rút nó ra. Vậy là những người Do Thái thế tục có một khoản nợ với lối sống này. Bởi vậy, khi chúng tôi đại diện cho những kẻ điên rồ nguyên thủy, suy đồi, thì sự thật không đơn giản là như vậy. Chúng tôi chỉ đang nói rằng, Hãy để cho chúng tôi sống theo cách mà chúng tôi muốn. Tôi không đòi hỏi anh phải sống như tôi, nhưng tôi muốn anh hiểu rằng đó là sự đúng đắn và kiên định nhất định ở địa vị của tôi bắt nguồn từ lịch sử của người Do Thái, rằng anh có một món nợ với vị trí này, và món nợ đó cho phép tôi đòi hỏi anh thực hiện những thỏa hiệp nhất định mà chúng ta có thể đàm phán cùng nhau. Đó là trường hợp như trong bộ luật của người Do Thái, theo đó các giáo sĩ được hỏi việc gì sẽ xảy ra nếu có hai chiếc tàu ngược chiều cùng đi qua một eo biển hẹp cùng một lúc. Một chiếc chất đầy hàng hóa còn chiếc kia thì rỗng không. Ai sẽ phải nhường đường? Một trong những giáo sĩ vĩ đại đầu tiên của Israel, Reb Avram Yeshayau Krelitz, sử dụng tình huống này khi tranh luận với Ben-Gurion về tình huống nhạy cảm hơn cần thiết cho cộng đồng Haredi. Kreilitz nói với Ben-Gurion rằng các giáo sĩ quyết định rằng chiếc thuyền trống phải nhường đường cho chiếc thuyền đầy hàng hóa. Sau đó ông đã tới và nói với Ben-Gurion rằng: ‘Hãy nhìn xem, chúng tôi đang mang cả mấy nghìn năm hàng hóa theo mình; ông thì vẫn chỉ là một chiếc tàu rỗng không. Ông phải nhường đường cho chúng tôi chứ.’”

Khi tôi nhận xét rằng người Haredim đã không đưa ra được nhiều tình huống nhạy cảm với cách sống của Tsimhe, Schiller vặn lại là bởi vì họ đã có quá nhiều năm bị lăng nhục bởi cộng đồng thế tục.

“Cộng đồng người Israel thế tục nhìn người Haredim theo một trong ba cách,” Schiller lý giải. “Những người thế tục cực đoan nói rằng người Haredim nên bị buộc phải rời đi – họ là một thứ lỗi thời, là nỗi ô nhục, và đi ngược lại sự phát triển của đất nước. Chúng ta nên cắt bỏ đi bộ phận bị thương tổn. Nhóm khác coi chúng tôi như những cái gai trong mắt. Đó là những người Israel thế tục luôn bị gắn với hình ảnh khu định cư của người Do Thái một cách ủy mị. Nước Mỹ có công viên giải trí Disneyland của họ, thì Israel có công viên giải trí của mình ở Mea Shearim. Họ thấy nó như một sự duyên dáng và thú vị, và nó có thể mang vài khách du lịch vãng lai tới đất nước này, và nó làm cho họ nhớ tới tổ tiên mình – nhưng đừng biến nó thành nghiêm trọng quá. Phản ứng thứ ba là: đó chỉ là khái niệm về Shabbos goy – những người không phải người Do Thái tới giáo đường và tắt hết điện trong ngày nghỉ của người Do Thái – vì vậy mà ở đây có khái niệm về người Do Thái Shabbos. Những người Israel thế tục muốn ai đó giữ Shabbos lại cho mình – là chúng tôi – vì vậy mà cháu chắt của họ, những kẻ không tuân thủ quy định sẽ bị buộc phải có đủ tính chất Do Thái thực sự để giữ được những nhận dạng Do Thái thế tục của họ.”

Thôi được, tôi nhượng bộ, có thể là ông đúng – không có đạo Do Thái chính thống giữ cho người Do Thái và tín ngưỡng của họ sống sót trong suốt hàng thế kỉ qua, đạo Do Thái không bao giờ tồn tại cả. Nhưng điều tôi băn khoăn là liệu với chỉ mỗi đạo Do Thái chính thống thôi thì người Do Thái có thể sống sót được trong vòng năm mươi năm nữa hay không. Không có phụ nữ nào của các ông và hầu như không có người đàn ông nào của các ông phục vụ trong quân đội Israel; hầu như không có yeshiva nào của các ông thừa nhận ngày Độc lập của Israel là một ngày nghỉ mà phải đóng cửa để ăn mừng; và có thể điều quan trọng nhất, các ông hoàn toàn bác bỏ tính hợp lệ của những làn sóng Cải cách và Bảo thủ của đạo Do Thái, mà không có nó thì hàng nghìn hàng vạn người Do Thái đã bị cuốn đi cùng đạo Do Thái với nhau trong thế kỉ XX rồi – bởi vì họ bị cách suy diễn và lối sống của các ông khước từ. Vậy thì điều gì khiến các ông thực hiện vụ trao đổi này bằng mọi giá? Tôi hỏi. Hơn nữa, bức tranh về cầu thủ bóng chày trên bàn ông đang làm gì vậy?

“Đó là Cal Abrams, cầu thủ bóng chày người Do Thái đầu tiên chơi cho Brooklyn Dodgers,” Schiller trả lời câu hỏi cuối cùng trước. “Anh ấy là cầu thủ chạy cánh trái vào những năm 1950. Khi đó, tôi còn là một thiếu niên ở Brooklyn. Đội Dodgers luôn có vấn đề về cánh trái. Sau khi anh được gọi vào đội tuyển, trong nửa mùa bóng đầu tiên, anh đã ghi được 477 bàn. Rõ ràng, với tôi và bạn bè thì Cal Abrams là vị Chúa Cứu thế. Đó là cách duy nhất để lý giải vì sao một người Do Thái lại có thể ghi được đến 477 bàn. Anh thuận tay trái và chỉ ghi bàn từ cánh trái, vì vậy mà các đội kình địch đã bố trí một kíp siêu sao kèm anh. Vậy là, đến giữa mùa bóng thì anh giảm phong độ và không thể nào ghi thêm một bàn nào nữa. Thế chúng tôi đã phân xử thế nào? Chúng tôi quyết rằng vị Chúa Cứu thế sẽ chỉ xuất hiện khi cả thế hệ đã sẵn sàng. Cứ cho rằng Cal Abrams là Chúa Cứu thế đi, nhưng thế hệ đã không tương xứng với anh. Chúng tôi chưa sẵn sàng.”

Được rồi, nhưng phải làm điều gì với Israel? Tôi hỏi.

“Hy vọng rằng nhà nước Israel sẽ không biến thành Cal Abrams,” Schiller trả lời, chà lên bộ râu muối tiêu của mình. “Nhưng nếu như vậy, nó sẽ không phải là sự kết thúc của người Do Thái. Tôi đang làm tất cả những gì có thể để chắc chắn rằng nhà nước làm điều ấy – nhưng đạo Do Thái của tôi sẽ không xoay quanh nó đâu.”

Bây giờ chúng ta sẽ đặt chân tới nơi nào đó, tôi nói. Tại sao nhà nước Israel của người theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục lại không cần thiết với ông?

“Chúng tôi cần một nhà nước Do Thái, hoạt động theo luật pháp Do Thái,” Schiller đáp lời. “Những người theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục cần một nhà nước cho những người Do Thái. Đó chính là điểm khác biệt. Tôi muốn một nhà nước Do Thái, nhưng tôi sẵn sàng sống và tranh cãi với tất cả những người của Đảng Lao động theo Chủ nghĩa Phục quốc thế tục trên thế giới ngày nay, bởi vì để duy trì cuộc tranh luận với họ, tôi bị thuyết phục rằng con cháu họ, những môn đồ của Giê-su hay những kẻ lang thang, một ngày nào đó sẽ cắm trại ở Ohr Somayach, hoặc nơi nào đó tương tự như thế. Rốt cuộc họ sẽ gia nhập vào nhóm người Do Thái Torah. Người Do Thái có thể sống sót và đã sống sót qua hàng nghìn năm mà không có Israel và không có một thánh đường nào. Nếu chúng tôi có những lựa chọn của mình, chúng tôi muốn Isarel, chúng tôi muốn thánh đường, và chúng tôi muốn các đường biên giới được ưu tiên. Nhưng chỉ có một điều duy nhất chúng tôi không thể sống sót được nếu không có ở đây và đó là Torah. Nếu chúng tôi phụ thuộc vào đất đai và chỉ mỗi đất đai không thôi, thì chúng tôi sẽ biến mất theo cách mà các văn hóa khác đã mất đi.”

Hẳn rằng vẫn còn vài ý nghĩa đặc biệt với ông với tư cách là một người Do Thái trong trường hợp nhà nước đã tồn tại ở đây? Chí ít, đất đai có ý nghĩa đặc biệt gì với ông chứ?

“Tất nhiên,” Schiller trả lời. “Khi người Do Thái đứng trước Chúa trời ở đỉnh Sinai, họ có nhiệm vụ phải hoàn thành thiên mệnh của mình là một dân tộc trên mảnh đất này. Người Do Thái không chỉ là một tập hợp các cá thể, họ là một dân tộc, và tất cả các dân tộc đều có sân vận động của mình, có đồng ruộng của mình. Như thể đó là sân vận động Yankee cho những người Do Thái, và chúng tôi là những người Yankee. Anh không thể chơi mà không có một sân vận động. Anh không thể chơi tất cả các trò chơi của mình trên đường phố và hy vọng sẽ thành một đội tuyển thành công được – mặt khác anh không bao giờ chơi được bóng chày cả. Anh không thể có được việc thực hiện hoàn hảo về kinh Torah nếu không sống ở mảnh đất này. Ở đây có những mitzvot [những lời răn] nhất định – cử hành năm Xaba chẳng hạn – nó chỉ có thể được tiến hành trên mảnh đất Israel này. Nhưng ưu điểm khi ở đây không chỉ là anh có thể thực hiện nhiều lời răn hơn. Mà là một trải nghiệm hoàn toàn Do Thái không thể tìm được ở nơi nào khác. Người Do Thái sống lưu vong là một người Do Thái cuối tuần. Họ có thể ngừng lại bất cứ khi nào họ muốn. Còn ở đây không có thời gian ngừng nghỉ. Đồng hồ vẫn chạy bởi vì anh luôn luôn đang ở trên sân đấu. Vứt rác ra đường phố ở Jerusalem là một sự vi phạm về mặt tinh thần chứ không chỉ là vi phạm về mặt đô thị.”

Được rồi, nếu mảnh đất này quan trọng đến vậy, thì tại sao 20 nghìn đàn ông Haredi lại dàn xếp để được hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự? Ông không cảm thấy là mình có trách nhiệm bảo vệ mảnh đất này với cuộc sống của ông à?

“Bất cứ ai trong cộng đồng của chúng tôi không nhận thức được tầm quan trọng của việc người Israel thế tục đang làm để bảo vệ chúng tôi đều là kẻ vong ân bội nghĩa,” Schiller trả lời. “Nhưng bất cứ ai không nhận thức được sự đóng góp của các trai tráng yeshiva là dốt nát. Tôi nghĩ việc trì hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự là chính đáng chừng nào mà người ta còn hữu ích và học tập trong một yeshiva, bởi vì tôi cho rằng có rất ít người nhận thức và học tập đủ để chiến đấu với kẻ thù của sự đồng hóa. Sự tồn tại của thế hệ kế tiếp của chúng tôi cũng phụ thuộc vào điều đó. Điều này không giống như những thanh niên trai tráng của chúng tôi đi tới bãi biển mỗi ngày thay vì phục vụ quân đội. Kỷ luật tinh thần cứng nhắc và lối sống của một thanh niên yeshiva không phải là một sự từ chối nhập ngũ thiếu cẩn trọng. Đó không giống như đi tới Canada. Có nhiều con đường dễ dàng hơn để né tránh quân đội.”

Tôi hỏi, nếu mảnh đất Israel có giá trị tinh thần với ông thì tại sao lại có nhiều giáo sĩ dòng chính thống cực đoan ở Israel là sứ giả hòa bình khi nó chuẩn bị hoàn trả Bờ Tây và Dải Gaza – ngược lại với những người Do Thái dòng chính thống theo Chủ nghĩa Phục quốc mà tiêu biểu là phong trào người định cư Do Thái Gush Emunim, những người tin tưởng rằng chiếm đóng toàn bộ vùng đất Israel là nền tảng cần thiết đầu tiên cho sự cứu thế cho toàn cầu và cho người Do Thái?

“Một xã hội Torah luôn đến trước một vùng đất cụ thể,” Schiller trả lời, giải thích về nơi nhóm người Haredim của ông với nhiều người theo Chủ nghĩa Phục quốc sùng đạo. “Chỉ có một lối qua duy nhất là quay trở về với Torah – chứ không phải là một địa danh cụ thể nào – như vậy có thể là một tiến trình cứu thế. Việc cứu thế chỉ tới khi chúng tôi giành được một đặc ân, không vì chúng tôi ngồi ở một địa điểm nhất định nào. Ở Israel là một phần trong việc giành đặc ân đó, nhưng ngày nay việc xây dựng những đường biên giới lý tưởng trong kinh thánh không còn cấp thiết nữa. Điều đó sẽ xảy ra vào một thời điểm mà nó đòi hỏi phải xảy ra, và tôi không phải thúc giục tiến trình đó bằng việc hy sinh tính mạng của những người Do Thái. Chúng tôi cần lòng can đảm nhún nhường, và người Gush Emunim thiếu đi thứ đó. Nếu tôi có thể bảo đảm tính liên tục của nhà nước này bằng việc trao trả lại vài vùng đất cho người Ả-rập, thì chính trách nhiệm của tôi là phải làm như vậy. Vài dân tộc đang chiến đấu cho vùng đất và vài dân tộc đang chiến đấu để bảo đảm rằng vùng đất đó xứng đáng được bảo vệ.”

Nhưng vì những người Do Thái nào chứ? Cộng đồng Haredi ở hàng đầu trong trận chiến nhằm thu hồi đạo Do Thái Bảo thủ và Cải cách, chỉ vì họ đưa ra một cách hiểu kinh Torah kém nghiêm túc hơn. Ông có thể sống như thế nào với sự tồn tại của dân tộc Do Thái và chống lại thuyết đa nguyên của người Do Thái?

“Tôi chẳng có vấn đề gì để trao tặng cho người Do Thái Bảo thủ hoặc Cải cách một địa vị nhất định như một con người và một người Do Thái,” Schiller trả lời. “Nếu như đó là thuyết đa nguyên, thì tôi là người theo thuyết đa nguyên. Nhưng điều mà tôi không chấp nhận ở thuyết đa nguyên là ý tưởng tất cả chúng tôi đều có quyền lợi bình đẳng. Chúng tôi không bình đẳng. Điều này là một khải thị ở Sinai. Một thông điệp và mật mã để giải thích thông điệp này đã được truyền qua các thế hệ. Đường biên giới của việc giải thích được phân định ngay từ đầu. Trong vòng những đường biên này, có một cơ hội để thảo luận. Nhưng không ra khỏi những đường biên này, và đó là nơi đạo Do Thái Bảo thủ và Cải cách đã xuất phát. Như thể là anh có một đội bóng chày và ai đó đi tới và bảo rằng, Tại sao chúng ta không chơi vài trận bóng đá nhỉ? À, chúng tôi không chơi bóng đá, chúng tôi đang chơi bóng chày. Nếu ai đó bắt đầu đa nguyên hóa theo cách đó, anh ta sẽ mất điểm trong toàn thảy hoạt động. Trong bóng chày, anh có thể ném bóng đảo chiều, phát bóng, và đập bóng, nhưng không được đánh lên phía trước. Đó là một trò chơi khác. Nhưng những người Bảo thủ và Cải cách lại coi chúng là cùng một trò, nhưng chúng không giống nhau. Tôi không tranh cãi với người Do Thái Cải cách. Vì anh ta là người Do Thái, tôi chấp nhận. Tôi tranh cãi với đạo Do Thái Cải cách kia.”

Trước khi đi, tôi nhận lời đề nghị của Schiller là dự một trong những buổi học về kinh Torah ở yeshiva của ông. Hóa ra là sự khải thị cao độ, mặc dù không phải là về phía kinh Torah. Trong lớp có khoảng hai mươi thanh niên, tất cả đều trong độ tuổi từ mười chín tới ba mươi chín. Họ đều có vẻ như là người Mỹ hoặc là người Tây Âu. Chí ít là phần nửa trong số họ đang mặc áo sơ mi thể thao của LaCoste với hình con cá sấu trên ngực, điều này khiến tôi băn khoăn không hiểu mình có đi dự một buổi họp mặt những người cùng hội hay không. Sự hiện diện của họ nhắc tôi nhớ tới tất thảy những đứa trẻ tôi đã sống cùng trong một kibbutz một mùa hè và chơi trò khai hoang vào lần đầu tiên tới Israel hai mươi năm trước. Nhưng ở đây không có kibbutz nào, và ở đây cũng không có ai hứng thú với trò dỡ khoai tây như tôi từng hứng thú.

“Các cậu làm gì ở đây?” Tôi hỏi thẳng họ. “Hẳn là các cậu không ở trong yeshiva rồi. Đó không phải là lý do người Mỹ tới đây. Các cậu đã ở đâu? Hẳn là các cậu đã ở trong các khu kibbutz, những đầm lầy ngập nước, mơ tưởng về việc được trở thành một phi công chiến đấu Israel, săn đuổi các cô gái trên bãi biển. Chuyện gì vậy?”

Câu trả lời bật ra như thể là từ cùng một người vậy: “Ngài Friedman, đó là thế hệ của ông chứ không phải thế hệ của chúng tôi.”

Bất ngờ, tất cả các số liệu thống kê do Bộ Thu hút Nhập cư công bố đều chỉ ra rằng tổng số người nhập cư tới Israel đều là những người Do Thái lai Mỹ thế tục quan tâm tới giấc mơ của người theo Chủ nghĩa Phục quốc đang giảm dần đi chợt hiện ra trước mắt tôi. Có thể Schiller đã đúng - ở đây không còn nhiều Ze’ev Chafetses trở thành Chủ nghĩa Phục quốc rock ‘n’ roll nữa. Một tân binh của Schiller nói rằng, chừng nào mà mọi người còn dốc sức xây dựng đất nước, thì ở đây vẫn đủ sự sôi động cho những người thế tục tháo nước ở các đầm lầy và để cho những người dòng chính thống làm điều họ muốn – và đầy người nhập cư Do Thái thuộc cả hai dòng này. Anh ta nói tiếp, nhưng đến lúc phải tới được một kết thúc thì hóa ra người thế tục lại không kết thúc được còn người dòng chính thống thì lại có. Họ có được thứ gì đó để đưa ra khi các đầm lầy đã tháo cho cạn nước, và đó là lý do tại sao hầu như những ngày này, chỉ những người Do Thái đến từ Mỹ và Tây Âu là người theo dòng chính thống cực đoan hoặc là tân binh của họ.

Ya’acove Asher Sinclair, một người đàn ông người Anh ba mươi tám tuổi, đã quyết định từ bỏ cuộc sống toàn cầu ở London để khám phá đời sống tôn giáo ở Israel, đã thẳng thắn chỉ ra cho tôi. “Trừ khi anh có vài chương trình nghị sự đang tiến hành, còn việc tới đây và trở thành một anh hùng, ồ… tôi không nghĩ nó mang lại được hình ảnh lãng mạn đó nữa,” Sinclair nói, không có vẻ gì là hối tiếc cả. “Các số liệu của năm trước thế nào? Khoảng 8.000 người Do Thái đến và 24.000 người đi. Những người rời đi là ai? Họ là những người đã lớn lên với mặt thế tục của Chủ nghĩa Phục quốc, nó đã được chứng minh là ngớ ngẩn, không thực hiện được, và không tồn tại được. Đó là một kiểu chủ nghĩa lãng mạn nào đó giữa sự gắn bó của họ với Israel, và giờ đây họ không nhận ra được Israel vì lý do tương tự. Sự lãng mạn không đủ với họ nữa. Nó chỉ mang tính nhất thời. Nó là niềm say mê. Điều khiến nó vĩnh cửu, lôi cuốn, và thuyết phục chính là Torah. Tôi đã đến đây chơi nhiều lần, nhưng chỉ khi tôi trở thành kẻ sùng đạo thì tôi thực sự muốn ở đây, bởi vì tôi cảm thấy đây là nơi duy nhất tôi có thể học ở cấp độ như tôi mong muốn. Tôi ở đây không phải để lái máy bay, tôi không ở đây để trở thành bác sĩ, tôi cũng không ở đây để vỡ hoang, tôi cũng không ở đây để cảm thấy cao lớn hơn hay tự do hơn, và tôi không ở đây để đi tắm biển hay phơi nắng. Tôi ở đây duy nhất cho việc học về đạo Do Thái. Tôi ở đây chỉ để học Torah mà thôi. Nếu Torah ở Hoa Kỳ hay Nam Phi hay Madagascar tốt hơn thì tôi sẽ tới những nơi đó. Nhưng ở đây nó tốt hơn cả.”

Nghe có vẻ hấp dẫn khi bạn ở trong bốn bức tường của yeshiva, và vây quanh là ¾ người Israel và 90% người có nguồn gốc Do Thái, những người hoàn toàn bị xa lánh vì quan điểm về tôn giáo này. Nhưng vài ngày sau, khi tôi đi dạo trên đường dọc bờ biển Tel Aviv, tôi tự hỏi mình, thế nào mà quan điểm của Schiller lại có thể hưng thịnh trong một thời gian dài, khi mà điều họ nói với những người Israel là họ sẽ tồn tại chỉ khi người Do Thái bắt chước tổ tiên của họ trong một mức độ nhất định. Ông ta có thể nói với những người Israel tự tin và có phẩm giá đã xây dựng cả nhà nước này từ hai bàn tay trắng, rằng họ đang sống như những người Do Thái vì sự đầu tư của các giáo sĩ hồi thế kỉ XVIII trong bao lâu? Ông ta có thể nói với các học sinh cấp ba Israel rằng họ phải ép mình vào khuôn khổ mà theo đó các học viên của yeshiva có thể yên ổn trong hòa bình trong bao lâu? Tôi không thể kìm được đã gọi cho Schiller vài ngày sau đó và hỏi liệu ông có thực sự tham gia một trận chiến thất bại nào hay không. Như thường lệ, ông ta sẵn sàng có câu trả lời và một câu chuyện.

“Tôi học trong một yeshiva của Reb Isaac Hutner ở New York,” Schiller trả lời. “Ông tới thăm Israel một lần và tới khu kibbutz Yad Mordechai. Một lần trong cuộc trao đổi giữa ông với những người lớn tuổi ở kibbutz, ông nói với họ, ‘Ben-Gurion nghĩ rằng đây là thời điểm thuận lợi đối với ông bởi vì khi trở nên thực dụng hơn, đất nước này không thể làm gì khác ngoài việc để cho trôi mất nguồn gốc tỉnh lẻ của mình và trở nên ít tình cảm hơn trong việc gắn bó với tôn giáo ngày xưa. Vì vậy, Ben-Gurion tránh đối đầu trực tiếp với giới tu hành nhưng lại chế nhạo họ bất cứ lúc nào có thể. Ông nghĩ trước sau gì thì họ cũng ngả vào lòng ông mà thôi. Ben-Gurion nhầm. Chúng tôi có thể lần theo những dấu vết sâu sa trong lịch sử của người có nguồn gốc Do Thái, và lúc nào cũng nhận ra khi có vẻ như đường sống của chúng tôi sắp sửa biến mất, thì bằng cách nào đó nó lại hồi sinh và mọi việc lại sống sót trở lại. Hiện giờ thì anh đang ở kibbutz Yad Mordechai, tôi có thể nói với anh một điều rằng: con anh nếu không sống hết đời ở Los Angeles thì sẽ ở Ohr Somayach. Chúng sẽ không ở Yad Mordechai. Hoặc cháu chắt của anh thì lại càng không nữa.’

“Tôi chẳng thể giúp được gì nhưng cảm thấy đó là một sự thật sâu sa gióng lên từ những lời đó,” Schiller nói với sự cả quyết của một người cảm nhận được cả ngọn gió phía sau lưng mình. “Và từng ngày từng giờ trôi qua, nó sẽ còn gióng lên nhiều sự thật hơn nữa.”

Nhưng không phải mọi người Do Thái ở Israel đều sẵn sàng chờ đợi tới cái ngày khi Chúa cứu thế sẽ hiển lộ dần dần khỏi bức màn tăm tối, để mở ra một xã hội Torah hoàn chỉnh. Một vài người đã vạch kế hoạch để đem nó lại gần hơn.

Thật sự thì đó là một kế hoạch đơn giản. Một nhóm nhỏ người định cư Do Thái ở Bờ Tây đã đánh cắp thuốc nổ từ doanh trại quân đội Israel ở cao nguyên Golan, đặt những trái bom tự chế ở căn cứ tại Dome of the Rock – ngôi đền linh thiêng thứ ba của đạo Hồi – rồi cho nổ tung nhà thờ màu vàng và xanh thành những mảnh vụn. Dome of the Rock tọa lạc trên ngọn núi Đền thiêng của Jerusalem, ngôi Đền đẹp thứ nhất và thứ nhì của người Do Thái, và những kẻ chủ mưu Israel được thuyết phục rằng Chúa cứu thế chỉ xuất hiện khi “sự báng bổ” của Hồi giáo đã rõ ràng từ ngai vàng thật sự của Chúa trời trên mặt đất, trọng tâm là chủ quyền quốc gia của người Do Thái. Đây chính là con đường của họ để phế truất ngai vàng và làm cho nó lôi cuốn hơn với đấng Chúa Cứu thế. Hoặc, như Yehuda Etzion, người định cư theo dòng Chúa Cứu thế, đứng sau kế hoạch nói với các đồng sự của mình, “Đạo luật này sẽ là một quá trình phù hợp có một không hai trong việc theo đuổi sự nghiệp của chúng ta. Chúng ta phải coi bản thân mình như những sứ giả truyền tin tức tốt lành từ thiên đường [của Chúa trời].”

Thật là may mắn cho Israel, và cả thế giới nữa, âm mưu kích động đấng Chúa cứu thế này không bao giờ được thực hiện, nhưng nó không chỉ dừng ở mong muốn được thử sức. Vụ nổ đã được chuẩn bị hoàn tất khi cảnh sát Israel phát hiện ra âm mưu, và vào tháng Sáu năm 1984 đã buộc tội hai mươi bảy người đàn ông bị cho là thuộc một tổ chức khủng bố ngầm Do Thái đóng tại Bờ Tây. Những tội phạm của tổ chức khủng bố Do Thái này sau này bị buộc tội không chỉ vì âm mưu chống lại Dome of the Rock mà còn vì vụ giết ba sinh viên người Palestine ở trường đạo Hồi ở Hebron năm 1983, nhằm trả thù cho việc giết một sinh viên yeshiva ở cùng thị xã, làm bị thương hai thị trưởng người Palestine ở Bờ Tây, Bassam Shaka và Karim Khalef, và vụ tấn công phá hủy những chiếc xe bus của Ả-rập tại Jerusalem.
         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Từ Beirut tới Jerusalem: Hành trình “Đi để hiểu” Trung Đông của một người Mỹ - chương 14 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Từ Beirut tới Jerusalem: Hành trình “Đi để hiểu” Trung Đông của một người Mỹ
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Từ Beirut tới Jerusalem: Hành trình “Đi để hiểu” Trung Đông của một người Mỹ - chương 14. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.204386949539 sec