Istanbul - Hồi Ức Và Thành PhốIstanbul - Hồi Ức Và Thành Phố - chương 2

Chương 2Tải chương
Truyện tổng hợp 2 > Truyện phương đông
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 

Gửi tới cha tôi, Gündüz Pamuk (1925-2002)



Cái đẹp của một phong cảnh nằm ở trong nỗi buồn của nó.

– Ahmet Rasim


Đây chính là cuốn sách biến Pamuk trở thành nhà văn của thành phố Istanbul, đúng như cách thức đã từng làm cho James Joyce là nhà văn của Dublin và Paul Auster thuộc về New York. Trong một viễn tượng hội họa, Istanbul tỏa khói những con phà, trầm lắng một nỗi buồn đế chế giữa ngổn ngang đổ nát thành quách cũ và đọng mãi trong tâm tưởng người đọc hai màu đen trắng, màu của quá khứ, của một ký ức hoang phế nhưng cũng đầy sức mạnh. Người ta chỉ có thể thực sự hiểu năng lượng văn chương của Orhan Pamuk khi thấm đẫm từng dòng ông viết về thành phố của ông, và khi ấy, sẽ không còn ai thấy kỳ lạ việc ông dành cả đời sống ở đó, trong ngôi nhà tuổi thơ, ngồi viết tại cái bàn nhìn ra mưa nắng trên mặt biển vịnh Bosphorus, điểm mốc phân chia ranh giới Đông và Tây.




Chương 1: Một Orhan khác


Ngay từ khi còn bé tí, tôi đã hồ nghi thế giới của tôi rộng hơn nhiều so với nhữn gì tôi có thể nhìn thấy: Ở đâu đó nhiều so với những gì tôi có thể nhìn thấy: Ở đâu đó, trên những con phố của Istanbul, có một căn nhà giống như căn nhà của chúng tôi, ở đó có một thằng bé Orhan khác, rất giống tôi, tôi và nó là hai đứa sinh đôi, hơn thế nữa, nó có thể là một thế thân của tôi. Tôi không thể nhớ đã lấy ý nghĩ đó ở đâu, hoặc làm thế nào mà nó đến với tôi. Hăn là nó nảy sinh từ mớ bòng bong những câu chuyện xì xầm, nhưng hiểu lầm, những ảo tưởng, và những sợ hãi. Nhưng trong một hồi ức sớm sủa nhất còn giữ được, việc tôi cảm nhận như thế nào về cái bóng ma ấy đã rất rõ ràng rồi.

Khi lên năm tuổi, tôi được gửi tới sống trong một thời gian ngắn tại một căn nhà khác. Sau một trong rất nhiều cuộc chia ly bão tố, cha mẹ chúng tôi bằng long gặp nhau tại Paris, và theo quyết định, anh tôi và tôi cùng ở lại Istanbul, tuy nhiên là tại hai nơi khác biệt. Anh tôi sẽ sống với bà tôi cùng toàn thể bà con trong gia đình, tại khu nhà của dòng họ, Nhà Pamuk, tọa lạc ở Nişantaşi, còn tôi thì được gửi tới ở với cô của tôi, tại Cihangir. Trên tường nhà của cô tôi – nơi tôi luôn được tiếp đón thật là niềm nở và đầy tình yêu – có treo bức hình một đứa bé trong cái khung màu trắng. Thỉnh thoảng cô tôi hoặc dượng tôi cười cười nhìn bức hình, nhìn qua tôi, chỉ tay nói: “Cháu đó!”

Cái chú bé đang yêu ở trong bức hình, với cặp mắt to, quả có giống tôi. Chú lại còn đội một trong những cái mũ tôi vẫn đội khi đi ra đường. Tôi biết chú không phải là tôi. (Sự thực, đó là một bức hình thật kitsch chụp một “chú bé dễ thương” mà một người nào đó đã đem về từ Âu châu. Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, liệu đó có phải là cái thằng Orhan sống ở căn nhà khác kia không?

Lẽ dĩ nhiên, lúc bấy giờ, tôi cũng khởi sự sống trong một căn nhà khác. Như thể tôi phải chuyển nhà để gặp đứa bé song sinh với mình đang sống tại một ngồi nhà khác ở Istanbul, nhưng tôi chẳng thích thú gì khi làm quen chú bé đó, tôi chỉ muốn về căn nhà thực sự của mình. Cái trò đùa vui nho nhỏ của vợ chồng cô tôi, cái việc nói tôi là đứa bé trong bức hình, có chút chế nhạo tuy không cố tính, và lần nào nghe điều đó tôi cũng thấy tâm trí mình rối bời: những ý nghĩ của tôi về chính tôi và bức hình mà tôi giống, căn nhà của tôi và căn nhà khác – tất cả những điều này càng làm tăng thêm ước muốn lại được trở về cùng với mọi người trong gia đình.

Chẳng bao lâu, ước muốn của tôi trở thành sự thực. Nhưng cái bóng ma của một thằng bé Orhan khác, trong một căn nhà khác, đâu đó trong thành phố Istanbul chẳng bao giờ rời bỏ tôi. Suốt thời ấu thơ, và luôn cả những năm mới lớn, nó ám ảnh, quấy nhiễu tối. Vào những buổi chiều mùa đông, lang thang trên đường phố, tôi thường đưa mắt nhìn vô những căn nhà hai bên đường, qua ánh đèn vàng nhạt ở bên trong nhà, và mơ mòng tưởng tượng những gia đình hạnh phúc, bình dị sống cuộc sống thoải mái dễ chịu của họ. Thế rồi, bỗng dưng tôi giật mình đánh thót khi nghĩ đến một anh chàng Orhan khác, có thể đang sống ở một trong những căn nhà đó. Lớn dần thêm, già dặn hơn, bóng ma trở thành tai quái, và tai quái trở thành ác mộng cứ thế trở đi trở lại. Trong một vài giấc mơ, cuộc gặp gỡ giữa tôi và anh ta, một Orhan khác đó – luôn xảy ra trong một căn nhà khác – khiến tôi sợ khiếp vía; trong những lần mơ khác, hai Orhan im lặng nhìn nhau, lạnh như băng. Sau đó, trong những khoảng khắc giữa tỉnh thức và mê muội, tôi ôm ghì cái gối, bám riết căn nhà, con phố, cái chỗ của tôi trên cõi đời này. Khi cảm thấy bất hạnh, tôi tưởng tượng ra mình ở tỏng một căn nhà khác, trong cuộc đời khác, ở cái nơi mà anh Orhan khác sống, và, mặc cho mọi chuyện, tôi gần như thuyết phục chính mình rằng tôi là anh ta và thích thú khi tưởng tượng anh ta hạnh phúc, sự thích thú ấy khiến trong một thời gian tôi cảm thấy cần thiết phải tìm kiếm cho ra căn nhà khác đó, tại một nơi chốn tưởng tượng của thành phố.

Và bây giờ, chúng ta đi đến trung tâm của vấn đề: tôi chẳng bao giờ rời khỏi Istanbul, chẳng hề rời những căn nhà, những con phố và những lối xóm của thời thơ ấu của tôi. Mặc dù, lúc này lúc nọ, tôi sống trong những khu vực khác nhau, năm chục năm sau, nhìn lại, lúc nào tôi cũng cảm thấy mình đóng rễ ở Nhà Pamuk của tôi, nơi những tấm hình đầu tiên được chụp, nơi bà mẹ tôi lần đầu tiên ôm tôi trong vòng tay của bà, và phô tôi ra với thế giới. Tôi biết, sự bền bỉ này có một phần nguyên do từ người bạn tưởng tượng, anh chàng Orhan khác kia, và từ niềm an ủi mà tôi có được từ mối thân quen giữa hai chúng tôi. Và chính vì lý do đó mà tôi cảm thấy câu chuyện của tôi có một điều gì đặc biệt cho thành phố và cho chính tôi: chúng ta sống trong một thời đại được định nghĩa bằng di dân hàng loạt và bằng những người nhập cư sáng tạo, thế mà tôi cứ ở lì một chỗ, trong suốt năm mươi năm, tại cùng một căn nhà. Và giọng nói buồn phiền của mẹ tôi lại vẳng lên: “Tại sao con không đi ra ngoài một lát? Tại sao không thử thay đổi quang cảnh, làm một chuyến đi đây đi đó?”

Conrad, Nabokov, Naipaul – những nhà văn này được biết đến là do đã thành công trong việc thiên di giữa các ngôn ngữ, quốc tịch, văn hóa, xứ sở, đại lục, và ngay cả nền văn minh. Trí tưởng tượng của họ lấy dưỡng chất từ sự lưu vong, một sự nuôi dưỡng được chiết ra không phải từ gốc rễ, mà từ việc không có gốc rễ. Tuy nhiên, sự tưởng tượng của tôi đòi hỏi tôi phải ở lì ở trong cùng một thành phố, cùng một con đường, cùng một căn nhà, nhìn mãi vào một cảnh tượng. Số phận của Istanbul là số phận của tôi. Tôi gắn liền với thành phố này bởi vì nó đã làm cho tôi trở thành tôi như bây giờ.

Gustave Flaubert, viếng thăm Istanbul 102 năm trước khi tôi ra đời, ngỡ ngàng vì cuộc sống đa dạng trên phố phường náo nhiệt; trong một bức thư ông đã tiên đoán, chỉ trong chừng một thế kỷ tới, thành phố sẽ trở thành thủ đô của thế giới. Thế mà lại ngược hẳn đi: Để quốc Ottoman sụp đổ, thế giới gần như quên mất là Istanbul có tồn tại. Thành phố khi tôi sinh ra trải qua những tháng ngày nghèo nhất, thê thảm nhất, u tối nhất và ít vinh quang nhất trong lịch sử hai ngàn năm của nó. Với tôi, nó luôn luôn là một thành phố của điêu tàn và của nỗi buồn mạt kỳ để chế. Tôi bỏ cả đời đánh lộn với nỗi buồn này, hay (như mọi cư dân của thành phố) để biến nó thành của riêng tôi.

Trong đời người, ít ra cũng có một lần, việc nhìn lại bản thân dẫn chúng ta tới chỗ xem xét những hoàn cảnh sự ra đời của chúng ta. Tại sao ta sinh ra, tại chính nơi đó của thế giới, vào chính ngày đó? Những gia đình nơi chúng ta sinh ra, những xứ sở, thành phố mà cuộc xổ số đời đã chỉ định cho chúng ta – chúng trông chờ tình yêu từ chúng ta, và sau cùng, chúng ta yêu chúng, từ tận cùng trái tim mình; nhưng liệu có phải chúng ta có lẽ còn xứng đáng được hưởng nhiều hơn nữa? Thinh thoảng tôi lại nghĩ mình thật đen đủi vì đã sinh ra tại một thành phố già nua, nghèo nàn, bị chôn vùi dưới những tro than của một để quốc điêu tàn. Nhưng một giọng nói từ bên trong tôi vẫn luôn khăng khăng điều này thực sự là một may mắn. Nếu đây là vấn đề của cải, giàu sang, thì chắc chắn kể như tôi là một kẻ may mắn vì đã sinh ra trong một gia đình khá giả khi ngọn thủy triều của thành phố đang ở lúc thấp nhất (dù nhiều người có thể nói ngược lại mới đúng). Nói gì thì nói, tôi không thích than vãn: tôi chấp nhận thành phố sinh ra tôi, như tôi chấp nhận hình hài của mình (tuy vẫn rất muốn đẹp trai hơn, to con hơn) và cái sự tôi sinh ra là đàn ông (dù vậy tôi vẫn thường tự hỏi một cách ngây ngô, giá như mình sinh ra là đàn bà, thì sự tình có tốt đẹp hơn chăng). Đó là số phận của tôi, và ngu gì mà sửng cồ với nó. Cuốn sách này là về số phận.

Tôi sinh vào lúc nửa đêm ngày 7 tháng Sáu năm 1952, trong một nhà hộ sinh tư nhỏ bé tại Moda. Các hành lang của nó, tôi nghe kể lại, thật là êm ả vào đêm hôm ấy, và thế giới cũng vậy. Ngoài chuyện núi lửa Strambolini hai ngày trước bất thình lình phun lửa và tro, kể như chẳng có gì xảy ra cho trái đất của chúng ta. Nhật báo toàn những tin vụn vặt: vài câu chuyện binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ đi chiến đấu tại Triều Tiên; vài tin đồn do người Mỹ tung ra để khơi dậy nỗi sợ về việc Bắc Hàn đang sửa soạn sử dụng vũ khí sinh học. Vào những giờ trước khi tôi ra đời, mẹ tôi mải miết theo dõi một tin địa phương: Hai ngày trước đó, mấy người gác đêm và một số cư dân “anh hùng” tại Trung tâm Sinh viên Konya đã nhìn thấy một người đàn ông đeo mặt nạ đáng sợ tìm cách leo vô một căn nhà qua cửa sổ phòng tắm; họ rượt đuổi người này qua những đường phố, tôi một nhà máy cưa thì tên tội phạm táo tợn đã tự sát, sau khi chửi rủa cảnh sát; ngày hôm sau, một người bán hàng vải nhận diện được xác chết, đó là tên găngxtơ một năm trước tại Harbiye giữa ban ngày ban mặt đã lăm lăm khẩu súng xông vào tiệm của ông ta để ăn cướp.

Khi đọc đến dòng chót của cái tin gay cấn, mẹ tôi đang ở một mình trong phòng vì, như nhiều năm sau này bà kể lại cho tôi nghe với một giọng giận dữ và buồn rầu, ông bố của tôi, sau khi đưa vợ tới nhà bảo sanh, thây tôi lâu chui ra quá, bèn bỏ bà một mình, đi du hí với đám bạn. Người độc nhất ở trong phòng sinh cùng với bà, là bà cô của tôi. Đang đêm, bà treo qua tường bao quanh khu vườn nhà báo sanh vào vớimẹ tôi. Khi nhìn tôi lần đầu, bà mẹ tôi so tôi với thằng anh ra dời trước đó hai năm, và nhận thây tôi bèo nhèo, mảnh mai hơn.

Nhưng lẽ ra tôi phái nói rằng bà “hẳn đã thấy tôi” như vậy. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi có một thì ngữ pháp đặc biệt cho phép chúng tôi phân biệt mấy chuyện nghe kể lại với những gì chứng kiến tận mắt; khi kể về những giấc mơ, chuyện thẩn tiên, hay sự kiện đã qua, chúng tôi sử dụng thì dặc bỉột này. Cần phải phân biệt giữa những gì chúng ta “còn nhớ” về các trải nghiệm sớm nhất trong đời, chiếc nôi, xe đẩy, những bước chân chập chững, và những gì cha mẹ chúng ta thuật lại, những câu chuyện ta thường rất say sưa chú tâm để nghe như thể nghe câu chuyện xuất chúng vể một ai đó khác. Đó là một cảm giác cũng ngọt ngào như khi nhìn thấy chính mình trong giấc mơ, nhưng chúng ta phải trả một cái giá thật đắt cho nó. Một khi đã in sâu vào trong đầu, lời người khác kể lại những gì chúng ta đã làm thường gây ấn tượng hơn nhiều so vớinhững gì bản thân chúng ta còn nhớ. Và cũng giống như việc chúng ta biết được về đời mình từ người khác, chúng ta để cho người khác tạo khuôn cho hiểu biết của chúng ta về thành phố nơi chúng ta sống.

Những khi chấp nhận rằng những câu chuyện nghe kể về thành phố của tôi và bản thân tôi cũng chính là những câu chuyện của tôi, tôi rất thèm nói như sau,” Ngày xửa ngày xưa, tôi rất hay vẽ. Tôi sinh ra ở Istanbul, tôi là một đứa trẻ ưa tò mò. Rồi thì, tới năm tôi hai mươi hai tuổi, không hiểu sao, tôi lại đâm ra viết tiếu thuyết.” Tôi thèm kể câu chuyện của đời mình theo kiểu đó – như thể đời mình là một chuyện gì xảy ra cho một người khác, như thể đời mình là một giấc mơ trong đó tôi nghe tiếng nói của tôi nhạt nhòa dần đi và ý chí của tôi rơi vào sự mê hoặc. Thật là đẹp, tuy nhiên tôi nhận ra rằng kể chuyện đời mình như một sử thi như thế là không đáng tin cậy, vì tôi không thể chấp nhận rằng các huyền thoại mà chúng ta kể về những cuộc đời thứ nhất của mình sửa soạn cho những cuộc đời thứ hai sáng sủa hơn, chân xác hơn, sẽ khởi sự khi chúng ta thức dậy. Bởi vì – ít ra là với những người như tôi – cuộc đời thứ nhì đó không ở đâu khác ngoài chính cuốn sách này, mà bạn đang cầm trên tay. Và chính vì thê; hãy thật cẩn thận, bạn đọc thân mến. Hãy cho tôi nói thằng với bạn, và, đổi lại, tôi yêu cầu ở bạn, sự cảm thông.

         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Istanbul - Hồi Ức Và Thành Phố - chương 2 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Istanbul - Hồi Ức Và Thành Phố
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Istanbul - Hồi Ức Và Thành Phố - chương 2. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.214502096176 sec