FrankensteinFrankenstein - chương 30

Chương 30Tải chương
Truyện tổng hợp 2 > Truyện phương tây
Kích cỡ chữ Màu chữMàu nền
  Tự cuộn trang   Exit 
Chương 24

Trong tình trạng của tôi lúc này mọi suy nghĩ tự chủ đều bị thiêu hủy và tan biến. Tôi bị cuốn đi trong cơn cuồng nộ, giờ đây chỉ riêng ý chí trả thù mới đưa lại cho tôi sức mạnh và sự điềm tĩnh; nó nhào nặn những cảm xúc của tôi, cho phép tôi bình tâm suy tính trong những thời điểm mà lẽ ra mê sảng hay cái chết đã tìm đến với tôi.

Quyết định trước hết của tôi là vĩnh viễn rời bỏ quê hương Geneva, nơi xiết bao yêu dấu khi tôi sống hạnh phúc, được yêu thương, nay trở nên đáng ghét trong nghịch cảnh. Thế là thu thập một món tiền và vài đồ nữ của mẹ, tôi ra đi.

Và khi ấy bắt đầu chặng đường phiêu bạt của tôi mà rồi đây sẽ chỉ kết thúc khi cuộc đời kết thúc. Tôi đã đi qua một phần rộng lớn của trái đất, trải bao vất vả nhọc nhằn mà những người lữ hành lang thang qua các vùng hoang sơ man dã phải chịu đựng. Vì sao sống nổi tôi cũng không biết nữa; nhiều lần tôi đã duỗi dài đôi chân mệt mỏi trên đồng cát mênh mông, cầu cho cái chết đến với mình. Nhưng tâm nguyện trả thù đã giữ cho tôi sống; tôi không thể chết, để kẻ thù sống sót sau mình.

Rời Geneva, việc đầu tiên tôi muốn làm là kiếm chút manh mối để tìm ra dấu vết kẻ thù ma quỷ của mình. Tuy nhiên kế hoạch chưa được rõ ràng, tôi loanh quanh mãi ở ngoại vi thành phố, chưa biết nên theo con đường nào. Khi đêm đến, tôi thấy mình đang đứng bên cổng nghĩa trang nơi William, Elizabeth và cha tôi yên nghỉ. Tôi vào đó, tìm đến tấm bia đánh dấu ngôi mộ của người thân. Tất cả im phăng phắc ngoài lá cây lao xao trong gió nhẹ; đêm xuống tối đen, làm ai dù thờ ơ mấy cũng phải cảm thấy khung cảnh thật trang nghiêm và xúc động. Linh hồn của những người đã khuất hình như còn lẩn quất đâu đây, phủ xuống một cái bóng không nhìn được, nhưng cảm được, trên người viếng thăm đang thương khóc.

Cảm giác buồn thương sâu sắc ban đầu trước khung cảnh đó nhanh chóng nhường chỗ cho cơn giận dữ tuyệt vọng. Họ đã mất, tôi còn sống; kẻ sát nhân cũng vẫn còn sống, muốn tiêu diệt hắn, tôi phải kéo lê cuộc đời mệt mỏi của mình. Tôi quỳ xuống cỏ, hôn mặt đất, đôi môi run rẩy kêu lên: “Xin mặt đất linh thiêng nơi tôi quỳ đây, xin các vong hồn bay lượn quanh tôi, xin nỗi đau vò xé đáy lòng tôi đến trọn đời mãn kiếp, và xin cả Bóng đêm nơi các thần linh ngự trị, hãy chứng giám cho tôi: Tôi xin thề theo đuổi đến cùng tên ác thần đã gây nên nỗi khổ này, tới chừng nào hắn hoặc tôi tàn lụi trong tử chiến. Vì mục đích này tôi phải bảo vệ gìn giữ cuộc sống; nhằm trả mối thù lớn lao này tôi sẽ lại nhìn mặt trời và giẫm lên cỏ xanh trên mặt đất, mà lẽ ra nên biến đi trước mắt tôi mãi mãi. Và tôi kêu gọi các người, vong hồn người đã khuất, và các vị chủ trì sự báo thù đang lang thang đây đó phù hộ tôi, dắt dẫn tôi hoàn thành sứ mạng. Hãy để cho con quái vật đáng nguyền rủa từ địa ngục ấy phải đau đớn đến tột cùng, phải thất vọng đến cay đắng như tôi đang bị hành hạ lúc này đây.”

Tôi đã bắt đầu lời thệ của mình vô cùng trang trọng, với một niềm kính sợ khiến tôi gần như tin rằng vong linh các bạn bè bị ám sát của tôi cũng nghe thấy và đồng tình với thành tâm của tôi; nhưng các nữ thần báo thù đã nhập vào tôi khi kết thúc, và lòng căm hận đã làm tôi nghẹn

Trả lời tôi qua màn đêm tĩnh lặng là một tràng cười ma quỷ. Nó vang lên trong tai tôi rất lâu và nặng nề; và núi non dội lại, khiến tôi cảm thấy như thể cả địa ngục đang vây lấy tôi mà cười cợt. Lẽ ra lúc đó tôi hẳn đã phát điên mà tự kết liễu cuộc đời khổ sở của mình, nếu không phải lời thề của tôi đã được nghe thấu, và tính mạng tôi được bảo toàn mà trả hận. Tiếng cười tắt lịm, khi một giọng nói ghê tởm quen thuộc, gần sát tai tôi, nói với tôi bằng tiếng thì thầm rành mạch: “Ta hài lòng lắm, kẻ khốn nạn kia! Mi đã quyết sống, và ta hài lòng lắm!”

Tôi lao tới nơi phát ra tiếng nói, nhưng tên ác quỷ đã né tránh được cánh tay vươn ra của tôi. Bỗng nhiên mặt trăng tròn vành vạnh hiện ra, soi sáng trọn vẹn cái hình thù méo mó ma quái của hắn đang vọt đi, nhanh hơn nhiều so với tốc độ người bình thường.

Tôi đuổi theo hắn, và đó là công việc của tôi suốt nhiều tháng trời nay. Từ một đầu mối mong manh, tôi đi theo dòng sông Rhône uốn khúc, nhưng vô ích. Biển Địa Trung Hải xanh ngắt hiện ra và nhờ một sự tình cờ lạ lùng, tôi trông thấy con quỷ ban đêm lẻn vào trốn trong một con tàu chuẩn bị hướng tới Biển Đen. Tôi cũng lên con tàu đó luôn, nhưng không hiểu sao hắn thoát mất.

Giữa những vùng hoang mạc Tartary và nước Nga, mặc dầu hắn vẫn lẩn tránh tôi, tôi vẫn nhằm theo đúng dấu vết của hắn mà truy đuổi. Đôi khi nhờ những người nông dân, hoảng hồn vì sự xuất hiện khủng khiếp của hắn, nên tôi biết đường đuổi theo; đôi khi chính hắn để lại dấu hiệu dẫn đường, sợ rằng nếu mất hết tung tích hắn, tôi sẽ thất vọng mà chết. Tuyết xuống, tôi nhìn thấy vết chân to tướng của hắn in trên miền đất trắng. Anh là người mới bước vào đời, chưa hiểu lo lắng là gì, chưa biết thế nào là đau khổ, anh làm sao hiểu được những gì tôi đã cảm thấy và giờ đây vẫn còn cảm thấy? Lạnh giá, ham muốn, mệt mỏi chỉ là những đau đớn thường tình nhất mà số mệnh bắt tôi phải chịu đựng; Quỷ vương đã rủa nguyền tôi, và tôi chứa cả địa ngục vĩnh hằng trong mình; thế nhưng một vị thần thiện vẫn đi theo tôi, chỉ dẫn cho tôi đường đi nước bước, và mỗi khi tôi suy sụp nhất, lại bất ngờ giải thoát cho tôi khỏi những khó khăn tưởng chừng không vượt qua được. Gặp lúc tôi đói lả đến kiệt sức, giữa nơi hoang vắng mênh mông lại có một bữa ăn để sẵn cho tôi, khiến tôi hồi phục cơ thể và phấn chấn tinh thần. Đồ ăn chẳng qua đạm bạc, như của nông dân địa phương; nhưng tôi không một phút nghi ngờ đó là do các thần linh mà tôi đã kêu gọi giúp đỡ. Gặp khi nắng hạn, trời khô rang không một gợn mây tôi khát cháy cả họng, sẽ có đám mây kéo đến, tuôn xuống vài hạt mưa cứu sống tôi, và biến.

Khi còn có thể, tôi xuôi theo dòng sông, nhưng nói chung tên ác thần tránh đường thủy vì đó thường là nơi tập trung đông dân cư. Những nơi khác thường vắng bóng người, chủ yếu tôi sống bằng thú vật gặp trên đường đi. Tôi có tiền trong túi, và phân phát đi để chiếm được cảm tình của dân làng; hoặc tôi đem theo chỗ thịt tôi săn được, và sau khi giữ lấy một phần, tôi biếu cho những ai đã cho tôi lửa và dụng cụ nấu nướng.

Cuộc đời tôi sống theo cách đó thật vô cùng kinh khủng, và chỉ đến đêm trong giấc ngủ tôi mới có được niềm vui. Ôi, giấc ngủ trời ban! Thường những lúc khổ sở nhất, tôi chìm vào giấc ngủ, và giấc mơ đưa tôi đến chỗ sung sướng mê ly. Các thần linh bảo vệ đã ban cho tôi những giây phút hạnh phúc ấy, có khi lâu hàng giờ, để tôi duy trì đủ sức mạnh cho cuộc hành hương. Không có những nghỉ ngơi chốc lát đó hẳn tôi đã quỵ dưới gian nan thử thách. Ban ngày tôi đứng vững và phấn chấn được để chờ đêm tới: trong mơ tôi thấy các bạn tôi, vợ tôi, quê hương xứ sở thân yêu; tôi trông thấy nét mặt nhân từ của cha tôi, nghe thấy giọng nói trong như bạc của Elizabeth, nhìn thấy Clerval trẻ trung khỏe mạnh. Thường khi quá mệt bởi hành trình vất vả, tôi tự thuyết phục mình rằng đây chỉ là giấc mơ, và khi đêm đến, sẽ lại được tỉnh dậy trong vòng tay bè bạn. Sao mà tôi yêu quý bạn bè tôi đến đớn đau khắc khoải! Tôi đã bám lấy dáng hình thân yêu của họ, để họ đôi khi ám ảnh cả những giờ phút tôi còn tỉnh thức, và tự thuyết phục mình họ vẫn đang sống cùng tôi! Những lúc đó khát vọng trả thù cháy bỏng trong tôi bỗng tắt ngấm, và tôi theo đuổi con đường hủy diệt tên ác thần như một nghĩa vụ trời trao, một thúc đẩy cơ giới từ một quyền lực nào đó tôi không hay biết, hơn là niềm ham muốn bùng cháy từ chính hồn tôi.

Tôi không biết cảm nghĩ của kẻ tôi đang theo đuổi ra sao. Đôi khi, thật vậy, hắn trắng trợn để lại dấu vết bằng cách viết trên thân cây hoặc khắc vào mặt đá, dẫn đường cho tôi, khiến tôi thêm điên tiết. “Này quyền của ta chưa kết thúc đâu,” (trên một điểm có thể đọc rõ những chữ này); “mi sống, và quyền lực của ta là trọn vẹn. Cứ đuổi theo đi, ta đang tìm đến những tảng băng Bắc cực vĩnh cửu, nơi sẽ làm mi khốn khổ vì lạnh và băng giá, những thứ ta hoàn toàn vô cảm. Nếu như không quá lề mề, mi sẽ thấy gần đây có một con thỏ rừng đã chết: ăn đi cho lại sức. Cứ tiến tới, hỡi kẻ thù của ta, chúng ta còn phải vật lộn lần cuối để tranh giành sự sống, nhưng từ nay đến lúc ấy, mi còn phải chịu đựng không biết cơ man nào là ngày giờ vất vả thảm thương.”

Ác quỷ xấc xược kia! Một lần nữa, ta thề sẽ trả thù; một lần nữa, ta mong mi bị hành hạo đến chết, đồ quỷ dữ thảm hại! Tôi sẽ không bỏ cuộc cho đến khi hoặc tôi hoặc nó bị hủy diệt; và khi đó tôi sẽ sung sướng biết bao được gặp lại Elizabeth và bạn bè đã khuất của tôi, có lẽ ngay từ giờ phút này họ đã chuẩn bị phần thưởng cho những nhọc nhằn dai dẳng và cuộc hành hương kinh khủng của tôi rồi!

Trên đường tôi đuổi theo hắn lên phía Bắc, tuyết rơi ngày càng dày và cái lạnh càng khắc nghiệt hầu như không chịu đựng nổi. Nông dân đóng kín cửa ở trong nhà, trừ một số rất ít can đảm nhất dám ra ngoài bắt đám thú vật chết đói phải mò khỏi chốn nương thân để kiếm mồi. Sông ngòi đóng băng hết, cá cũng không có mà bắt; và tôi bị cắt nguồn cung cấp chính của mình.

Tôi càng vất vả khó khăn kẻ thù tôi càng vênh vang đắc thắng. Có một câu hắn để lại như sau: “Hãy sẵn sàng! Gian khổ chỉ mới bắt đầu thôi: hãy mặc áo lông vào, và kiếm cho đủ thức ăn, bởi chúng ta sắp sửa bước vào cuộc hành trình sẽ đưa đến mi những khốn đốn đủ thỏa mãn lòng căm ghét vĩnh hằng của ta.”

Những lời xấc xược này nâng cao thêm lòng can đảm và kiên trì; tôi quyết tâm không thể thất bại; và cầu Trời phù hộ, tôi tiếp tục với niềm hăng hái không nao núng, băng qua biết bao miền hoang vắng mênh mông cho tới khi đại dương hiện ra xa xa phía trước, tạo thành đường biên ở chân trời. Thật xa lạ biết bao so với biển cả xanh ngắt phương Nam! Mặt biển phủ toàn băng đá, phân biệt được với đất liền chỉ vì hoang vu hơn và gồ ghề hơn hẳn. Người Hy Lạp đã khóc vì sung sướng khi từ trên những ngọn đồi châu Á nhìn thấy biển Địa Trung Hải và reo hò chào đón đoạn kết nỗi cực nhọc của mình[54]. Tôi không khóc, nhưng quỳ xuống và với cả tấm lòng, cảm ơn các thần linh đưa đường đã dắt dẫn tôi an toàn tới nơi hy vọng có thể, bất kể sự chế giễu của kẻ thù, gặp được và vật lộn với hắn.

[54] Người Hy Lạp…: gợi lại sự kiện miêu tả trong Abanasis (Chuyến viễn chinh) của Xenophon, nhà sử học Athens vào thế kỷ 5 trước Công Nguyên, khi đội quân người Hy Lạp đánh thuê cho hoàng tử Cyrus người Ba Tư thất trận bị kẹt lại trong lãnh thổ Ba Tư thù nghịch, phải tìm đường ra Biển Đen để rút về quê hương Hy Lạp của mình.

Trước đó mấy tuần, tôi đã kiếm được chó và xe trượt, nhờ đó vượt được qua mặt tuyết với tốc độ kinh hồn. Tôi không biết con quỷ có kiếm được những phương tiện đó hay không, nhưng tôi đã phát hiện được rằng, nếu như trước đây trong cuộc đuổi bắt, tôi thường thường lạc hướng, thì nay tôi đã bắt kịp hắn khá nhanh: thậm chí ngày tôi lần đầu trông thấy đại dương hắn mới vượt trước tôi có một hôm, và tôi hy vọng mình sẽ tóm cổ hắn trước khi đến được bãi biển. Vì vậy với lòng can đảm mới nhen lại tôi càng vội vã dấn lên, chỉ hai ngày sau tới một căn lều nát trên bờ biển. Hỏi thăm tin tức những người sống gần đó về con, tôi thu được những thông tin chính xác. Họ nói, một con quái vật khổng lồ tới đó đêm hôm trước, trang bị cả súng trường lẫn rất nhiều súng lục; khiến cho những người sống trong ngôi nhà con con đơn độc gần đó chạy mất vì khiếp hãi dáng hình ghê rợn của hắn. Hắn đã cướp đi toàn bộ dự trữ lương thực mùa đông của họ, để vào một chiếc xe trượt, hắn còn bắt mất một đàn chó kéo xe đông đảo, thắng chúng vào xe trượt; và đêm đó, trước sự mừng rỡ của đám dân làng khiếp vía, hắn đã lên đường tiến thẳng qua đại dương về nơi không có đất liền; và họ đoán trước sau gì hắn cũng hết đời vì mặt băng sẽ tan, hay chết cóng giữa băng giá vĩnh cửu.

Nghe xong tôi thất vọng mất đôi chút. Hắn lại thoát khỏi tay tôi, còn tôi lại phải bắt đầu chuyến hành trình hủy diệt kéo dài tới vô tận vượt qua những tảng băng sừng sững trên mặt nước, giữa cái lạnh mà đến dân địa phương cũng ít người chịu nổi; và tôi, vốn sinh ra tại miền khí hậu ấm áp ôn hòa đầy ánh nắng, ắt sẽ không sống sót. Nhưng cứ nghĩ đến chuyện con quỷ sẽ sống và đắc thắng, tức giận và quyết tâm trả thù lại bừng lên như một cơn triều mạnh mẽ, nhấn chìm tất cả mọi cảm nghĩ khác. Nghỉ ngơi một chút – trong thời gian ngắn ngủi đó vong linh những người đã khuất cứ lơ lửng quanh tôi, thúc giục tôi phải chịu khổ cực mà báo thù cho bằng được – tôi lại chuẩn bị lên đường.

Tôi đổi cỗ xe trượt trên đất của mình để lấy loại thiết kế phù hợp với thứ địa hình của Đại dương Băng giá, chất đầy lương thực mang theo và rời khỏi đất liền.

Tôi không đoán nổi từ đó đến nay đã bao lâu; nhưng tôi đã chịu đựng nỗi khổ cực mà chỉ riêng quyết tâm vĩnh cửu thực hiện sự trả thù chính đáng cháy bỏng trong tim mới giúp tôi kham nổi. Những ngọn núi băng hùng vĩ lởm chởm thường chắn ngang đường tôi đi, và tôi thường nghe thấy nước biển gầm gào bên dưới đe dọa tiêu diệt tôi. Thế nhưng nước đá lại nhanh chóng phủ dày nơi băng mỏng, đường đi trở lại an toàn.

Tôi đoán thời gian làm cuộc hành trình này mất độ ba tuần, căn cứ vào lượng lương thực đã tiêu thụ; và hy vọng bị kéo căng, trở đi trở lại trong tim, thường đưa đến bao giọt đắng cay vì nản lòng và đau đớn rơi xuống từ đôi mắt. Quả đã có lần nỗi tuyệt vọng suýt tóm được con mồi của mụ, và lẽ ra tôi đã sắp suy sụp hoàn toàn dưới nỗi đau này; một lần, sau khi những con vật đáng thương chở tôi đi đã dốc hết sức lực không ngờ lên được đỉnh một ngọn núi băng thoai thoải, một con sụm xuống dưới cơn mệt nhọc và chết hẳn; tôi nhìn cảnh mênh mông trước mắt mà đau đớn, thì bỗng nhiên chớp thấy một đốm đen trên mặt băng trong ánh hoàng hôn. Tôi că mắt ra nhìn xem đó có thể là cái gì, và thốt lên một tiếng phấn khích điên dại khi nhìn ra một chiếc xe trượt trong có một hình thù méo mó quá quen thuộc. Trời ơi! Hy vọng đã trở lại tim tôi cháy rực đến từng nào! Nước mắt ấm giàn trên mặt, tôi vội vã quệt đi ngay, để chúng khỏi cản trở tầm quan sát con quỷ; nhưng mắt tôi vẫn mờ đi bởi những giọt nóng bỏng cho tới khi, buông thả mình cho những cảm xúc đang xâm chiếm, tôi khóc òa lên.

Nhưng giờ không phải lúc chậm trễ; tôi gỡ con chó chết ra khỏi dây cương, cho đám còn lại ăn uống no nê; và sau một giờ nghỉ ngơi bắt buộc, mà đối với tôi thật là phiền toái, tôi lại lên đường. Vẫn trông thấy chiếc xe trượt ở xa xa; tôi cũng không mất dấu nó thêm lần nữa, trừ đôi khi nó bị vài mỏm băng che khuất trong chốc lát. Tôi bắt kịp hắn rõ rệt, và chỉ sau gần hai ngày đeo đẳng, tôi nhìn thấy kẻ thù chỉ cách mình độ hơn một dặm, và tim tôi đập loạn trong lồng ngực.

Nhưng khi đó, lúc tôi đã tưởng như sắp tóm cổ được kẻ thù thì bỗng dưng mọi hy vọng của tôi tiêu tan: tôi mất hoàn toàn dấu vết hắn hơn cả những lần trước. Tôi nghe thấy tiếng sóng gầm bên dưới, nước ào lên từng cuộn, từng phút càng thêm dữ dội và khủng khiếp. Tôi cố vượt lên, nhưng không nổi. Gió dậy, biển gào thét, và rùng rùng chuyển động như một cơn địa chấn, mặt băng nứt toác ra với một tiếng động long trời lở đất. Công cuộc ấy hoàn thành trong nháy mắt: chỉ sau vài phút mặt biển náo động đã ngăn giữa tôi với kẻ thù, tôi bị bỏ lại trôi nổi trên một tảng băng đang nhỏ dần lại, chuẩn bị cho tôi một cái chết kinh hoàng.

Cứ thế nhiều giờ khủng khiếp trôi qua; chó của tôi bỏ mạng gần hết, bản thân tôi sắp quỵ xuống dưới bao đau khổ chồng chất, thì bỗng tôi thấy tàu anh đang thả neo gần đó, trao lại cho tôi hy vọng được cứu sống. Tôi không hề biết rằng lại có tàu lên phương Bắc xa đến mức này, và hết sức sửng sốt khi nhìn thấy nó. Tôi vội vã phá xe trượt tuyết ra làm mấy mái chèo, và nhờ đó cố gắng di chuyển mảnh băng vỡ về phía tàu anh, mệt không sao tả xiết. Tôi đã quyết định, nếu tàu anh đi về phía Nam, thà liều thân mặc cho biển cả bắt sao chịu vậy còn hơn từ bỏ mục đích mình. Tôi hy vọng có thể thuyết phục anh cấp cho một chiếc thuyền con mà theo chân hắn. Nhưng tàu anh theo hướng Bắc. Anh đã vớt tôi lên đúng lúc tôi sức cùng lực kiệt, và chẳng mấy chốc nữa đã sắp lụi tàn sau muôn vàn khó khăn gian khổ, rơi vào cái chết mà tôi vẫn còn kinh sợ, bởi nhiệm vụ chưa được hoàn thành.

Ôi! Khi nào các vị thần linh mới dắt dẫn tôi tới chỗ tên ác thần, nhờ thế cho phép tôi yên nghỉ như hằng mong muốn; hay phận tôi là phải chết, còn hắn vẫn sống nguyên? Nếu tôi chết, anh Walton, hãy thề với tôi không để cho hắn thoát; hãy tìm hắn và hoàn thành sự trả thù của tôi bằng cái chết dành cho hắn. Và liệu tôi có dám đòi hỏi anh làm cuộc hành hương như tôi, chịu đựng những khó khăn gian khổ mà tôi đã từng trải qua không? Không; tôi đâu ích kỷ đến thế. Có điều, sau khi tôi chết, nếu hắn xuất hiện, nếu các vị thần chủ trì sự báo thù đưa hắn tới với anh, anh hãy thề với tôi không để cho hắn sống, hãy thề với tôi là hắn không thể đắc thắng trên những nỗi thương tâm chồng chất của tôi, sống sót mà kéo dài thêm bản tội ác xấu xa của hắn. Hắn hùng biện lắm, giọng hắn thuyết phục vô cùng, và có lần lời lẽ hắn đã từng thuyết phục được cả tôi kia mà, nhưng xin anh đừng tin hắn. Linh hồn hắn đen tối quỷ quyệt như hình thù của hắn vậy, đầy lừa đảo phản trắc, ma mãnh như quỷ dữ. Đừng nghe hắn; hãy viện tới vong hồn William, Justine, Clerval, Elizabeth, cha tôi và Victor khốn nạn này, và hãy xuyên ngọn kiếm qua tim hắn. Tôi sẽ quẩn quanh gần đó, để hướng lưỡi thép đâm trúng đích.

Walton, tiếp.

26 tháng Tám năm 17…

Margaret, vậy là chị đã đọc xong câu chuyện kỳ lạ và rùng rợn này, chị có thấy máu mình đông lại vì khủng khiếp như em lúc này đây hay không? Đôi khi nỗi thống khổ thình lình ập đến khiến anh không nói tiếp nổi; lúc khác giọng nói tắc nghẹn nhưng vẫn chói lòng của anh khó khăn bật ra từng chữ tràn ngập đớn đau. Đôi mắt đẹp đáng yêu của anh lúc thì sáng rực vì căm giận, lúc thì sụp xuống bởi nỗi buồn đau, hay tắt lịm đi vì khốn khổ cùng cực. Nhiều khi anh điều khiển được nét mặt và âm điệu, và kể lại những sự kiện kinh hoàng nhất bằng một giọng điềm tĩnh, trấn áp mọi biểu hiện bồn chồn nóng nảy; rồi như một ngọn núi lửa bùng ra, mặt anh đột ngột chuyển thành cả một cơn thịnh nộ điên cuồng, và anh rít lên những lời chửi rủa kẻ hành hạ mình.

Câu chuyện của anh mạch lạc, và mang dáng dấp sự thật giản đơn, tuy nhiên phải thừa nhận rằng những lá thư của Felix và Safie anh đưa ra cho em xem, cùng bóng thoáng qua của quái vật đó mà chúng em nhìn thấy từ tàu mình, khiến em tin vào câu chuyện hơn nhiều những lời đoan chắc của anh dù cho chúng khúc chiết và sốt sắng đến mấy. Vậy một quái vật như thế quả là có thực! Em không thể nghi ngờ điều đó; nhưng em vô cùng ngạc nhiên và khâm phục. Đôi lúc em cố gạn hỏi Frankenstein ít nhiều chi tiết về việc tạo ra cái sinh vật ấy, về điểm này thì cậy răng anh cũng không moi được gì.

“Bạn ơi, bạn điên chăng?” anh nói. “Nếu không, sự tò mò vô ý thức của anh rồi sẽ dẫn đến đâu? Liệu anh có bắt chước tôi mà tạo cho chính mình và cho cả thế giới một kẻ thù ma quỷ? Thôi đi bạn ơi! Hãy học từ những khổ ải của tôi, đừng mua lấy chúng vào người.”

Frankenstein nhận thấy em có ghi lại câu chuyện của anh; anh đòi xem và tự mình sửa lại và thêm thắt rất nhiều chỗ, chủ yếu làm cho những đoạn đối thoại giữa mình với kẻ thù thêm linh hoạt, sinh động hơn. “Bởi anh đã giữ lại lời kể của tôi,” anh nói, “tôi không muốn một phiên bản què quặt sẽ ở lại với hậu thế.”

Một tuần lễ đã trôi qua trong suốt thời gian em nghe kể sản phẩm lạ lùng nhất trí tưởng tượng có thể tạo ra được ấy. Mọi ý nghĩ, mọi cảm xúc của tâm hồn em bị cuốn hút vào vị khách, nhờ câu chuyện của anh và phong thái dịu dàng cao quý của anh. Em những muốn làm dịu lòng anh, nhưng một con người khổ sở đến tột cùng như vậy, không còn chút hy vọng được an ủi như vậy, lẽ nào em khuyên anh sống tiếp? Ôi, không! Niềm vui duy nhất anh còn có thể nếm trải bây giờ sẽ là khi anh gửi gắm linh hồn tàn tạ của mình vào bình yên trong cái chết. Nhưng anh vẫn có được một niềm khuây khỏa, kết quả của cô độc và mê sảng: khi trong mơ anh trò chuyện được với bạn bè, được an ủi đôi chút từ những trò chuyện đó, hoặc được thôi thúc trả thù, anh tin họ không phải do anh tưởng tượng ra, mà là bản thân những sinh linh đó, đến thăm anh từ những xứ sở thuộc đất nước xa xôi kia. Niềm tin ấy khiến những huyễn tưởng của anh nghiêm trang đến mức trước mắt em chúng cũng ấn tượng và lôi cuốn gần như sự thực.

Những cuộc chuyện trò của chúng em không phải chỉ bó gọn trong câu chuyện bất hạnh của riêng anh. Trong mỗi lĩnh vực kiến thức chung anh đều tỏ ra có hiểu biết rộng lớn vô hạn độ, nhận thức sắc sảo và nhanh nhạy. Tài hùng biện của anh đầy sức thuyết phục khiến người ta phải mủi lòng; lần nào nghe anh kể tới một sự kiện bi thương hoặc khi anh muốn truyền cảm tình yêu, lòng trắc ẩn, em đều phải khóc. Thời còn hiển đạt hẳn anh phải là một sinh linh huyền diệu biết chừng nào, nếu trong suy sụp mà anh còn cao quý và thần thánh đến như thế! Hình như anh cũng cảm thấy được giá trị của chính mình và tầm vóc sự sa ngã của bản thân.

“Hồi còn nhỏ,” anh nói, “tôi đã tin số phận dành cho mình một công nghiệp vĩ đại nào đó. Cảm xúc của tôi sâu sắc, nhưng tôi lại có óc phán đoán bình tĩnh có thể giúp tôi đạt tới những thành công vẻ vang. Cảm giác về giá trị của mình là điều nâ tôi rất nhiều trong hoàn cảnh mà người khác lẽ ra đã bị đè bẹp, bởi vì theo tôi, đem những tài năng có thể hữu dụng cho đồng loại vứt bỏ đi trong tiếc thương vô ích thật là một hành động tội lỗi. Khi nghĩ đến công trình mình đã hoàn thành – tạo nên một con vật có cảm xúc, có lý trí chứ có phải kém đâu – tôi không thể tự xếp mình vào cùng một loại với đám bác học khùng tầm thường. Nhưng ý nghĩ này, từng hỗ trợ tôi rất lớn khi bắt đầu sự nghiệp, giờ đây chỉ càng nhấn chìm tôi vào sâu trong cát bụi. Tất cả mọi dự tính và hoài vọng của tôi chẳng là cái gì hết, và giống như vị tổng thiên thần ham muốn quyền hạn vô biên, tôi đã bị xích vào địa ngục vĩnh cửu[55]. Trí tưởng tượng của tôi sống động, và khả năng phân tích ứng dụng của tôi rất lớn: hai phẩm chất này kết hợp lại đã khiến tôi ấp ủ và thực hiện được việc sáng tạo ra một con người. Ngay cả lúc này đây tôi vẫn không thể nhớ lại những giấc mơ cũ mà không phấn khích, những giấc mơ trong thời kỳ chưa hoàn tất công trình. Trong tâm tưởng tôi đã đặt chân lên tận thiên đàng, khi hoan hỉ vì quyền năng mình có, khi cháy bỏng nghĩ về kết quả có thể đem lại. Từ khi còn nhỏ tôi đã thấm đẫm hy vọng lớn lao, khát khao cao cả; thế mà giờ đây tôi đã suy sụp biết bao! Ôi, bạn của tôi ơi! Bạn mà biết xưa kia tôi thế nào thì chắc bạn không thể nhận ra tôi trong tình trạng tàn tạ thế này đâu. Trước kia rất hiếm khi tôi biết đến nản lòng; định mệnh đáng sợ dường như đã cuốn tôi đi, để rồi tôi rơi xuống, rơi xuống mãi không bao giờ còn gượng dậy.”

[55] Vị tổng thiên thần ham muốn quyền hạn vô biên: Lucifer, tức Satan, vì muốn tranh ngang bằng với Chúa mà đáng bị tống vào địa ngục.

Nghĩa là em sắp mất đi con người đáng khâm phục này sao? Em đã thiết tha mong sao có được một người bạn, đã tìm mỏi mắt một ai đó đồng cảm và mến yêu mình. Thì đó, không thể ngờ trên đại dương hoang vắng này em lại tìm ra được một người như thế; nhưng e rằng em đã có được anh chỉ để quý trọng anh, rồi lại mất anh. Em muốn giải hòa anh với cuộc sống nhưng anh đã gạt đi.

“Anh Walton,” anh nói, “cảm ơn anh đã dành thiện ý cho một kẻ khốn nạn thảm hại tới mức này, tuy nhiên, khi anh nói đến mối quan hệ mới, tình yêu thương mới, chẳng lẽ anh nghĩ chúng thay thế được những người đã mất? Có người đàn ông nào bằng Clerval đối với tôi, hay người đàn bà nào làm Elizabeth thứ hai? Cứ cho rằng mối giao tình không được củng cố thêm bằng những sự kiện phi thường đi nữa, nhưng những bầu bạn từ thuở nhỏ luôn luôn chiếm hữu tâm hồn ta với một sức mạnh khó lòng có được ở bạn kết sau này. Họ hiểu rõ tâm tính ta từ hồi nhỏ, những điều cho dù về sau có thể khác đi nhưng không bao giờ mất hẳn; họ nhìn nhận những hành động của ta với những đoan quyết chắc chắn hơn về tính hợp đạo lý của các động cơ. Anh chị em ruột với nhau sẽ chẳng bao giờ nhìn ra ở người khác sự giả tạo hay lừa dối, trừ phi đã có những triệu chứng từ rất sớm; trong khi bạn hữu ta, dù gắn bó đến thế nào đi nữa, cũng có thể nghi ngờ, dù không chủ ý. Nhưng tôi yêu quý bạn bè không chỉ gắn bó vì thói quen và gần gũi, mà vì chính những đức tính của bạn mình; và ở đâu tôi cũng nghe thấy giọng nói dịu dàng của Elizabeth và chuyện trò của Clerval thì thầm bên tai. Họ đã qua đời, và chỉ một cảm giác duy nhất trong cõi cô đơn này còn bắt tôi bảo toàn cuộc sống. Giả sử tôi bị ràng buộc bởi một công trình hay dự án cao siêu nào đem lại lợi ích lớn cho đồng loại, thì tôi còn thiết sống để hoàn thành nó. Nhưng đó đâu phải số mệnh tôi: tôi phải đuổi theo để hủy diệt cái sinh vật do tôi tạo ra đó; khi đó phần việc của tôi trên thế giới đã làm trọn, và tôi có thể nhắm mắt xuôi tay.”

2 tháng Chín.

Chị yêu quý,

Em đang viết cho chị giữa vòng nguy hiểm bao quanh và lo sợ không biết có còn được nhìn lại nước Anh cùng bạn bè thân thiết sống ở đó nữa không. Chung quanh em toàn những núi băng không cho phép tàu đi qua, luôn đe dọa đâm nát tàu. Các thủy thủ can trường mà em đã thuyết phục làm bạn đường của em hướng về em cầu cứu, nhưng em chẳng thể làm gì. Hoàn cảnh chúng em có vẻ cực kỳ đáng sợ, tuy nhiên em vẫn không đánh mất hy vọng và can đảm. Thế nhưng thật kinh khủng khi nghĩ rằng tính mạng ngần này con người đang bị đe dọa do mình. Nếu có mệnh hệ gì, tất cả là vì cái kế hoạch điên cuồng của em mà ra.

Và chị nữa Margaret, tâm trí chị sẽ ra sao? Chị sẽ không được tin gì về kết cục của em, và sẽ sốt ruột trông ngóng hoài em trở về. Năm tháng qua đi, chị sẽ phải đối mặt với từng cơn thất vọng, mà vẫn day dứt vì hy vọng. Ôi, chị thân yêu của em, nghĩ đến lòng mong ngóng thắt lòng thắt ruột của chị cứ dần mỏi mòn đi, em còn thấy điều đó đáng khiếp hãi hơn cả cái chết của chính em. Tuy nhiên chị còn có một người chồng và những đứa con thân yêu; chị vẫn sẽ hạnh phúc thôi. Trời sẽ ban phước cho chị, phù hộ cho chị hạnh phúc!

Người khách bất hạnh của em đối đãi với em bằng tình thương cảm trìu mến nhất. Anh cố gắng mang lại cho em hy vọng, và ăn nói như thể sự sống là một báu vật anh trân trọng. Anh nhắc nhở em những nhà thám hiểm vùng này gặp những hiện tượng như vậy thường xuyên đến đâu, và dù không chủ ý em cũng phải thấy lạc quan và phấn chấn. Cả các thủy thủ cũng chịu ảnh hưởng tài hùng biện của anh: khi anh nói, họ không thất vọng nữa; anh khơi lên nhiệt tình của hừng nào còn nghe giọng anh, họ còn tin rằng những núi băng đồ sộ kia chỉ là những gò đất nhỏ, sẽ biến mất trước quyết tâm của con người. Nhưng những cảm xúc đó chỉ tạm thời, thêm một ngày chờ đợi là thêm nỗi hãi hùng; em thậm chí sợ rằng nỗi tuyệt vọng này sẽ đưa đến nổi loạn.

5 tháng Chín.

Một cảnh bất thường kỳ lạ vừa xảy ra chị ạ; tuy rằng nhiều khả năng thư này không bao giờ đến được tay chị, em không thể không ghi lại nó.

Tàu chúng em vẫn bị các núi băng bao quanh, vẫn trong nguy cơ sát sườn sẽ tan tành nếu va vào chúng. Lạnh không thể nào tả được, và một số lớn bạn đường bất hạnh của em đã tìm đến yên nghỉ giữa cảnh hoang vắng đìu hiu này. Frankenstein thì sức khỏe ngày một hao mòn; mắt vẫn long lanh tia lửa sốt, tuy nhiên anh đã kiệt sức rồi, và những khi đột ngột bị kích động mà cố sức, anh lại nhanh chóng thỉu đi như không còn sức sống.

Như đã nói trong thư trước, em đã sợ một cuộc nổi loạn sẽ diễn ra. Sáng hôm nay, trong khi đang ngắm nét mặt héo mòn của bạn mình – chân tay anh đờ ra, mắt đã hờ khép – thì em giật mình bởi nửa tá thủy thủ đang đòi vào cabin. Họ vào, và người cầm đầu nói chuyện với em. Anh ta nói anh ta cùng số thủy thủ đây được mọi người chọn lựa để thay mặt đưa ra với em một yêu cầu mà vì lẽ công bằng hẳn em không thể từ chối. Hiện tàu chúng em bị kẹt cứng trong băng, và có thể còn không bao giờ thoát ra được; nhưng họ sợ rằng nếu may mắn băng tan, bởi điều này cũng vẫn có khả năng, và mở một con đường, em sẽ lại liều lĩnh tiếp tục cuộc hành trình đưa họ tới hiểm họa mới sau khi thoát khỏi khốn nguy trước mắt. Vì vậy, họ yêu cầu em long trọng hứa với họ rằng con tàu mà thoát khỏi đây, em lập tức sẽ quay mũi tàu về hướng Nam.

Nghe họ nói em rất bối rối. Bản thân em chưa hề thất vọng, em cũng chưa nghĩ đến chuyện quay về, khi nào đường mở. Thế nhưng liệu em có thể từ chối không, điều đó có phải là hợp lý, thậm chí liệu điều đó có thể làm được? Em còn đang băn khoăn chưa trả lời, thì Frankenstein, nãy giờ vẫn yên lặng và, thực tế, trông như thể khó mà đủ sức theo dõi được câu chuyện, bỗng nhỏm lên; đôi mắt nảy lửa, hai má bừng đỏ một sức mạnh trong chốc lát. Hướng về tốp người, anh nói:

“Các anh nói vậy là nghĩa thế nào? Yêu cầu gì ở thuyền trưởng? Các anh dễ dàng từ bỏ ý định của mình đến thế ư? Chẳng phải các anh từng gọi đây là cuộc thám hiểm vinh quang hay sao? Mà vinh quang là vì sao? Đâu phải vì đường đi phẳng lặng êm ả như trên mặt biển phía Nam, mà bởi vì nó đầy rẫy nguy hiểm và khiếp hãi; bởi vì mỗi sự kiện xảy ra đều đòi hỏi sức chịu đựng dẻo dai, là dịp thể hiện lòng dũng cảm can trường; bởi vì khốn nguy và thần chết luôn rình rập xung quanh, yêu cầu các anh gan góc mà vượt qua nó. Bởi vậy nó mới vẻ vang, bởi vậy nó mới trở thành một sự nghiệp vinh quang. Rồi đây các anh sẽ được ca tụng như những ân nhân của giống loài, tên tuổi các anh sẽ được tôn sùng bởi đó là tên tuổi của những con người dũng mãnh đi gặp cái chết vì danh dự, vì lợi ích của nhân loại. Thế mà giờ đây, xem kìa, vừa mới tưởng tượng thấy khó khăn, hoặc cứ cho là vừa mới gặp thử thách ác liệt và vĩ đại đầu tiên để chứng tỏ lòng can đảm đi, các anh đã rúm người lại và sẵn sàng chịu tiếng là những kẻ không có nổi sức mạnh để chịu giá lạnh và nguy nan; vậy là, các linh hồn tội nghiệp, chúng đã rét cóng lên và quay về bên lò sưởi ấm áp ở nhà. Trời, đâu cần chuẩn bị đến thế này cho việc ấy, các anh đâu phải đi tới tận đây, và lôi kéo thuyền trưởng của các anh vào thất bại nhục nhã, chỉ để chứng minh sự hèn nhát của mình. Ôi! Hãy tỏ ra là những con người xứng đáng, hay nếu cần hãy tỏ ra mình vượt cả con người. Hãy quyết tâm theo đuổi mục đích, hãy vững vàng như đá. Băng đâu có được tạo thành bởi thứ vật liệu như tim các anh; nó dễ đổi thay, và không chống cự nổi các anh, chỉ cần các anh bảo rằng nó không làm nổi. Đừng trở về gia đình với vết nhơ hổ thẹn trên trán. Hãy trở về như những anh hùng đã chiến đấu và chinh phục, những người chưa từng biết quay lưng chạy khỏi kẻ thù.”

Giọng anh lúc trầm lúc bổng, tùy theo cảm xúc trong câu nói, ánh mắt anh đầy dũng khí và mục đích cao cả; liệu có cần băn khoăn nhóm thủy thủ có cảm động hay không? Họ nhìn nhau, và im lặng không trả lời được. Em bèn lên tiếng, bảo họ hãy cứ lui về, suy nghĩ về tất cả những điều đã nói, nếu quả thực họ tha thiết không muốn tàu đi xa nữa lên phía Bắc, em sẽ không trái ý họ đâu, nhưng hy vọng sau khi suy nghĩ, lòng can đảm của họ sẽ trở lại.

Họ rút lui, em quay lại nhìn bạn em, nhưng anh đã thỉu đi, hầu như không còn sức sống.

Tất cả những chuyện này rồi sẽ kết thúc thế nào, em chưa biết; dù em thà chết còn hơn trở về trong nhục nhã, không hoàn thành ý định. Tuy nhiên em sợ rằng phận em sẽ là vậy; các thủy thủ không được động viên bởi vinh quang và danh dự; họ làm sao có thể sẵn lòng tiếp tục chịu đựng khó khăn gian khổ.

7 tháng Chín.

Số phận thế là đã quyết, em đã đồng ý nếu lần này thoát chết, sẽ quay về. Hy vọng của em bị thiêu trụi bởi hèn nhát và do dự như vậy đấy; em trở về, vẫn hoàn dốt nát và thất vọng. Em chưa đủ là một nhà hiền triết để nhẫn nại chịu đựng bất công này.

12 tháng Chín.

Tất cả đã qua rồi; em đang trở về Anh. Em đã mất mọi hy vọng về sự hữu dụng của mình cũng như về vinh quang – em đã mất người bạn của em nữa. Nhưng em sẽ cố gắng kể chi tiết chị nghe những chuyện bi thảm đó, chị thân yêu ạ; và bởi đang theo dòng về nước Anh, về với chị, em sẽ không nản chí.

Ngày 9 tháng Chín.

Băng bắt đầu tan, chúng em nghe thấy những tiếng gầm như sấm động ở xa xa, trong lúc các đảo băng nứt ra rồi vỡ tung ra tứ phía. Thời điểm này rất nguy hiểm; nhưng vì chẳng làm được gì ngoài thụ động chờ đợi, mối quan tâm lớn nhất của em lúc đó dành cho vị khách bất hạnh của em, nay đã yếu lả đi đến nỗi hoàn toàn liệt giường. Băng vỡ ở phía sau tàu chúng em và được đẩy mạnh lên phía Bắc; một làn gió từ phía Tây nổi lên, đến ngày 11 đường về phía Nam đã hoàn toàn rộng mở. Thủy thủ thấy thế, biết con đường trở về quê hương rõ ràng là đảm bảo, đều thét lên vui sướng ầm ĩ thật lâu. Frankenstein đang ngủ lơ mơ, tỉnh dậy, hỏi em lý do. Em đáp:

“Họ reo vui vì sắp được trở về Anh quốc.”

“Vậy là anh trở về thật ư?”

“Ôi chao, thật chứ còn gì nữa. Làm sao tôi chống lại được yêu cầu của họ? Tôi không thể dắt dẫn họ đến hiểm họa trong khi lòng họ không muốn, và tôi phải trở về.”

“Cứ về đi nếu anh muốn, nhưng riêng tôi thì không đâu. Anh có thể từ bỏ mục đích của anh, nhưng nhiệm vụ tôi là do trời xanh quyết định, tôi đâu dám trái ý trời. Tôi yếu thật, nhưng các thần linh chủ trì sự báo thù sẽ đem lại cho tôi đầy đủ sức mạnh.” Nói xong câu đó anh cố gắng ngồi lên, nhưng điều này tỏ ra quá sức, anh lại ngã xuống và ngất đi.

Mãi lâu sau anh mới tỉnh lại, và em mấy lần tưởng sự sống đã từ bỏ hẳn rồi. Cuối cùng anh mở mắt; thở nặng nhọc, không nói nổi. Bác sĩ trên tàu cho anh ng một ngụm thuốc an thần, lệnh cho chúng em ra ngoài hết để anh yên. Ông bảo riêng em, anh chỉ còn sống được vài giờ nữa.

Vậy là anh đã được tuyên án, em chỉ còn biết đau khổ và kiên nhẫn chờ đợi mà thôi. Em ngồi bên giường anh quan sát anh; đôi mắt anh nhắm nghiền, em cứ tưởng anh ngủ; nhưng kìa, anh thều thào gọi em đến gần, nói:

“Chao ôi! Sức mạnh mà tôi dựa vào đã từ bỏ tôi mà đi; tôi cảm thấy mình sắp chết, trong khi hắn, kẻ thù của tôi, có thể vẫn còn đang sống. Walton ạ, đừng nghĩ trong những giây phút cuối cùng của đời mình, tôi lại có cảm giác cháy bỏng căm hờn và khát khao trả thù mãnh liệt trước đây từng bày tỏ; nhưng tôi cho là mình đúng khi mong muốn cái chết cho kẻ thù. Trong những ngày cuối cùng này tôi luôn bận tâm suy ngẫm về những hành vi của mình trong quá khứ; tôi không cho rằng mình đáng trách. Một cơn hăng say điên cuồng đã đưa tôi đến chỗ tạo ra một sinh vật có lý trí, và bị ràng buộc vào nó với trách nhiệm, trong chừng mực tôi làm được, bảo đảm cho nó sống yên vui hạnh phúc. Đó là bổn phận của tôi; nhưng còn có thứ cao hơn thế. Bổn phận với những sinh thể thuộc chính giống nòi tôi còn đòi hỏi tôi quan tâm đến hơn nhiều, vì nó liên quan tới hạnh phúc và khổ đau của một số người lớn gấp nhiều lần. Quan điểm này thôi thúc tôi phải từ chối tạo ra bạn đời cho sinh vật đầu tiên, và tôi làm thế là đúng. Hắn đã cho thấy lòng ích kỷ, xấu bụng và ác độc không gì sánh nổi; hắn đã tiêu diệt các bạn tôi; hắn còn quyết tâm tiêu diệt những sinh linh có tình cảm cao quý, khôn ngoan, hạnh phúc; mà tôi cũng không hiểu khát vọng trả thù đó đến đâu là cùng nữa. Bản thân hắn khổ sở, nhưng để không còn khiến ai thêm khốn khổ nữa, hắn đáng phải chết. Giết hắn là nhiệm vụ của tôi, nhưng tôi đã thất bại. Lúc còn mang những động cơ xấu xa ích kỷ, tôi đã yêu cầu anh tiếp tục nhiệm vụ dang dở của mình; và giờ tôi nhắc lại lời đề nghị ấy, khi chỉ còn đức độ và lý trí dắt dẫn tôi.

Nhưng tôi không thể đòi hỏi anh rời bỏ đất nước, bạn bè, để hoàn thành nghĩa vụ của tôi; và giờ đang trở về Anh quốc, anh sẽ chẳng còn mấy cơ hội mà gặp hắn. Tôi sẽ để anh tự suy nghĩ kỹ những điều trên, và cân nhắc cho chính xác nên làm gì anh coi là bổn phận; suy nghĩ, đánh giá của tôi giờ đã rối loạn bởi cái chết đang gần đến. Tôi chẳng dám yêu cầu anh làm những việc tôi cho là phải, bởi rất có thể cảm xúc vẫn còn đánh lạc hướng tôi.

Điều chủ yếu làm tôi băn khoăn là con quỷ ấy còn sống tiếp làm công cụ hại người; về mọi điều khác, lúc này đây, giờ phút ngắn ngủi tôi đợi chờ được giải thoát này, là giờ phút hạnh phúc duy nhất mà vài năm nay tôi mới được hưởng. Kìa dáng dấp những người thân thương đã khuất đang tới quanh tôi, tôi phải mau đến với vòng tay họ. Vĩnh biệt Walton! Hãy tìm hạnh phúc trong an bình, tránh tham vọng cao xa cho dù chỉ là thứ tham vọng tưởng như trong sáng về những thành tích lớn trong khoa học và khám phá. Nhưng sao tôi phải nói như vậy chứ? Tôi đã tan nát vì hy vọng ấy, nhưng biết đâu người khác lại thành công.”

Giọng anh càng nói càng yếu đi; cuối cùng, kiệt quệ vì cố gắng này, anh chìm vào im lặng. Khoảng nửa tiếng sau anh lại ráng sức định nói, nhưng không nổi; anh yếu ớt nắm lấy tay tôi, đôi mắt nhắm nghiền vĩnh viễn, trong khi ánh rạng rỡ của nụ cười hiền dịu tắt trên môi.

Chị Margaret, em biết nói sao đây về sự tàn lụi quá sớm của linh hồn tuyệt vời này? Em làm thế nào cho chị hiểu lòng em đau đớn sâu sắc đến đâu? Những gì nói được ra lời đều quá nông cạn, quá yếu ớt. Nước mắt em chảy dài, tâm trí em phủ bóng mây mù thất vọng. Nhưng em đang trở về Anh, và có thể sẽ tìm được chút an ủi.

Em bị ngắt quãng rồi. Mấy âm thanh kia báo hiệu gì đây? Nửa đêm rồi, gió đêm thổi rất nhẹ, thủy thủ canh trên boong không động tĩnh. Lại nữa; có tiếng gì đó như tiếng người nói, nhưng khàn hơn, vẳng ra từ cabin nơi xác Frankenstein còn nằm đó. Em phải dậy ra xem thế nào đây. Chúc chị ngủ ngon.

Trời đất ơi! Chị nghĩ xem có chuyện gì mới xảy ra? Chỉ nhớ lại thôi em vẫn còn choáng váng. Không biết em có đủ sức miêu tả lại tỉ mỉ không; nhưng câu chuyện mà em ghi lại đây làm sao hoàn chỉnh được nếu không có đoạn kết bi thảm này.

Em bước vào cabin, nơi thi thể người bạn tuyệt diệu nhưng bất hạnh của em đang yên nghỉ. Cúi xuống bên anh là một hình thù mà em không tìm nổi lời để mô tả: vóc dáng khổng lồ, nhưng hoang dã, và méo mó. Từng món tóc bù xù rũ xuống che lấp mặt; nhưng một bàn tay to tướng giơ ra, màu sắc và nước da nhìn không khác gì xác ướp. Nghe thấy tiếng chân em lại gần, hắn ngưng ngay những tiếng gào nửa đau thương nửa kinh sợ và nhảy vọt ra phía cửa sổ. Chưa bao giờ em nhìn thấy cái gì kinh khủng như khuôn mặt hắn, chưa bao giờ có gì ghê tởm mà lại đáng sợ như vậy. Bất giác em nhắm mắt lại, và phải cố gắng nhớ lại bổn phận mình đối với kẻ hủy diệt này. Em gọi hắn ở lại.

Hắn dừng lại, kinh ngạc nhìn em, rồi sau đó lại nhìn về phía hình thù bất động của người sáng tạo ra hắn, hắn hầu như quên hẳn sự có mặt của em, mỗi nét mặt mỗi cử động của hắn đều như thể xuất phát từ cơn giận dữ điên cuồng của một niềm xúc cảm mạnh mẽ không kiềm chế nổi.“Đây lại một nạn nhân nữa của ta!” hắn kêu lên. “Với vụ án mạng này mọi tội lỗi của ta thế là hoàn tất; sự tồn tại khổ sở liên tiếp của ta sắp đến tận cùng! Ôi, Frankenstein, kẻ vừa rộng lượng vừa đắm đuối yêu mình! Giờ đây xin ngài tha thứ cho tôi thì phỏng còn ích gì? Tôi, kẻ đã hủy diệt ngài đến tàn lụi bằng cách hủy diệt hết những gì ngài thương quý. Hỡi ôi! Ngài đã lạnh ngắt rồi, ngài không thể trả lời ta.”

Giọng hắn dường như nghẹn lại, những thôi thúc đầu tiên của em, đã định xui khiến em thực hiện cái bổn phận là tuân theo trăng trối của bạn, tiêu diệt hắn đi, lúc này đã lặng xuống dưới lẫn lộn tò mò và thương cảm. Em lại gần cái sinh vật khủng khiếp đó; em không dám ngước lên nhìn hắn, vẻ xấu xí của hắn có gì đó rất ghê hãi và phi tự nhiên. Em định cất lời nhưng thốt không ra tiếng. Quái vật vẫn tiếp tục xổ ra hàng tràng những lời trách móc bản thân không đầu không đuôi. Cuối cùng em thu đủ quyết tâm để nói với hắn nhân lúc hắn dịu đi một chút:

“Sự ăn năn hối hận của mi,” em nói, “giờ chỉ là thừa. Giả như mi đã nghe tiếng nói của lương tâm, chú ý đến những cắn rứt của lòng hối hận, trước khi đẩy cuộc trả thù ma quỷ đến tận mức này, thì hẳn Frankenstein vẫn còn đang sống.”

“Vậy chẳng lẽ ngươi tưởng rằng,” ác thần đáp, “chẳng lẽ ngươi nghĩ rằng đau khổ và ân hận trong ta đã chết hẳn từ lúc đó hay sao? Người ấy,” hắn nói tiếp, trỏ vào thi thể, “người ấy đâu có đớn đau gì khi công cuộc đến hồi kết thúc; không hề! Không được đến một phần vạn nỗi khổ não ta chịu đựng suốt từng bước thực thi nó. Một tình cảm ích kỷ thúc ta tiến tới trong khi trái tim ta co rút vì nọc độc của sự ăn năn[56]. Ngươi nghĩ tiếng rên rỉ của Clerval đối với tai ta là âm nhạc sao? Tim ta được cấu tạo để đón nhận tình yêu và thương cảm; và khi bị nỗi khốn khổ biến thành ác độc và thù hận, nó không qua nổi sự thay đổi tàn bạo đó mà không chịu đựng tra tấn tới mức mi không tài nào hình dung nổi.

[56] So sánh Thiên đàng đánh mất, IX, 171 - 172, Satan khi mới tới Lạc viên: “Sự trả thù, ban đầu ngọt dịu, chỉ ít lâu đã trở thành cay đắng phản lại chính mình.”

“Sau khi giết chết Clerval, ta trở về Thụy Sĩ, lòng tan nát, mất hết tinh thần. Ta thương hại Frankenstein; lòng thương biến thành kinh hoảng, ta ghê tởm chính mình. Nhưng khi ta phát hiện ra người ấy, kẻ trong một lúc đã ban cho ta sự sống và mọi vò xé tâm can không tả nổi, lại dám hy vọng về hạnh phúc, trong khi đổ lên đầu ta bao khốn nạn và tuyệt vọng, người ấy lại tìm kiếm nguồn vui từ lạc thú đam mê mà ta bị ngăn cấm vĩnh viễn, thì nỗi ganh tị bất lực và giận hờn cay đắng lại đưa ta đến khao khát trả thù[57]. Đã bị đưa đến nước này, ta không còn chọn lựa nào khác là khiến mình thích nghi với cái yếu tố mà mình đã tự tâm lựa chọn. Việc hoàn tất mục đích ma quỷ của mình đã trở thành một thứ xúc cảm không dập nổi. Và bây giờ đã hết, đây là nạn nhân cuối cùng của ta!”

[57] So sánh Thiên đàng đánh mất, IX, 467-471, khi Satan đi tìm Eve sáng hôm đó, và thoạt nhìn nàng bỗng cảm thấy mình “tốt đẹp một cách ngu ngốc” mà dịu đi những ý định độc ác trước kia, “nhưng Địa ngục nóng bỏng nằm sẵn trong hắn ta bùng cháy, dù đang ở giữa Thiên đàng, nhanh chóng dập tắt niềm vui, và giờ hành hạ hắn nhiều hơn nữa, khi hắn càng nhìn thấy niềm lạc thú chẳng phải cho mình: nhanh chóng quay lại cơn thù hằn rực cháy cùng mọi ý nghĩ xấu xa.”

[58] So sánh Thiên đàng đánh mất, IV, 108 - 110, sau khi Satan ở vườn Lạc viên cân nhắc về kế hoạch chống lại Chúa và loài người, trải qua đủ thứ cảm xúc ngờ vực, sợ hãi, tỵ nạnh và tuyệt vọng, cuối cùng đi đến quyết tâm thực hiện kế hoạch của mình: “Nay vĩnh biệt Hy vọng, và từ đó vĩnh biệt luôn Sợ hãi, vĩnh biệt cả Ăn năn: mọi cái Thiện bỏ rồi, Hỡi cái ác, mi với ta từ nay thành thiện.”

Thoạt tiên những lời giãi bày khổ sở của hắn làm em cảm động, nhưng khi nhớ lại Frankenstein đã nói về tài hùng biện và thuyết phục của miệng lưỡi hắn như thế nào, và khi nhìn lại thi thể đã cạn kiệt sức sống của bạn em, em lần nữa nổi giận. “Tên khốn nạn!” em bảo. “Mi khá thật, đến đây mà than vãn cảnh tan hoang do chính tay mi tạo ra. Mi ném ngọn đuốc vào giữa khối nhà, và khi tất cả đã cháy rụi hết, mi ngồi trên đống tro tàn mà thương khóc cho cảnh sa ngã. Đồ quỷ sứ giả nhân giả nghĩa! Giả sử người mà mi tiếc than còn sống, hẳn anh ấy vẫn là đối tượng, lần nữa lại là mồi ngon cho sự báo thù đáng nguyền rủa của mi rồi. Mi đâu biết thương xót là gì, mi than vãn chỉ vì nạn nhân sự ác độc của mi đã bị giật khỏi mi.”

“Ôi, không phải thế đâu, không phải,” sinh vật kia ngắt lời, “thế nhưng hẳn đó phải là cảm giác của ngươi khi chứng kiến cái vẻ như là toan tính của ta. Thế nhưng ta không định tìm ai chia sẻ nỗi bất hạnh của mình. Không bao giờ tìm được mối đồng cảm nào hết. Hồi đầu đi tìm nó, ta nhằm vào tình yêu đức hạnh, những cảm xúc hạnh phúc và thương mến tràn trề trong ta, ta những muốn dự phần trong đó. Nhưng nay, đối với ta, đạo đức chỉ còn là một cái bóng, hạnh phúc yêu thương đã trở thành nỗi tuyệt vọng ngán ngẩm và đắng cay, vậy ta đi tìm đồng cảm về chuyện gì đây? Ta cam tâm đau khổ một mình, trong khi những nỗi đau còn đó: khi chết đi, ta hài lòng vì căm ghét và ruồng bỏ sẽ nhanh chóng làm mờ những ký ức về ta. Một thời ta đã tưởng đến những giấc mơ đạo đức, tiếng tăm hay tình yêu cuộc sống. Một thời ta đã sai lầm mà hy vọng gặp được những sinh vật, bỏ qua hình dáng bên ngoài của mình, sẽ yêu mình vì những phẩm chất xuất sắc mình có thể bộc lộ. Ta đã được nuôi dưỡng bởi những ý nghĩ cao cả về danh dự và tận tụy hy sinh. Nhưng giờ thì tội ác đã dìm ta xuống thấp hơn cả con vật đê tiện nhất. Không tội ác nào, hiểm họa nào, mưu đồ nào, khổ sở nào so sánh được với những thứ ta đã trải qua. Nhìn lại toàn bộ danh mục đáng sợ những tội mình đã phạm, ta không tin nổi mình chính là kẻ trước kia tâm trí tràn đầy những mộng tưởng siêu trần và cao thượng về lòng thiện biết bao đẹp đẽ và tráng lệ[58]. Nhưng sự đời vốn thế: thiên thần sa ngã trở thành ác quỷ. Thế nhưng kẻ thù lớn nhất của Chúa và người đó cũng có bạn và đồng bọn trong cảnh tuyệt vọng; ta chỉ một mình.

[58] So sánh Thiên đàng đánh mất, IX, 467-471, khi Satan đi tìm Eve sáng hôm đó, và thoạt nhìn nàng bỗng cảm thấy mình “tốt đẹp một cách ngu ngốc” mà dịu đi những ý định độc ác trước kia, “nhưng Địa ngục nóng bỏng nằm sẵn trong hắn ta bùng cháy, dù đang ở giữa Thiên đàng, nhanh chóng dập tắt niềm vui, và giờ hành hạ hắn nhiều hơn nữa, khi hắn càng nhìn thấy niềm lạc thú chẳng phải cho mình: nhanh chóng quay lại cơn thù hằn rực cháy cùng mọi ý nghĩ xấu xa.”

So sánh Thiên đàng đánh mất, IV, 23 - 26, Satan ở vườn Lạc viên: “Giờ lương tâm đánh thức niềm tuyệt vọng trước vẫn ngủ yên, đánh thức ký ức xót xa về ngày xưa, hiện tại, và tương lai tàn tệ hơn sắp tới.”

Ngươi tự xưng là bạn Frankenstein, và có vẻ biết về các tội ác của ta cũng như mọi bất hạnh của người ấy. Nhưng khi tỉ mỉ kể ra tất cả, người ấy đâu có nhắc được lời nào đến những ngày tháng khốn khổ ta phải trải qua trong những đam mê bất lực. Bởi dù tiêu diệt các hy vọng của người ấy, ta cũng không thỏa mãn được những dục vọng của mình. Chúng đời đời nóng bỏng và cào xé; đến nay ta vẫn mong mỏi có tình yêu, có bạn bè, nhưng vẫn bị hắt hủi như cũ. Như thế mà không phải bất công sao? Chẳng lẽ ta bị coi là kẻ phạm tội duy nhất, khi toàn thể loài người có tội đối với ta? Sao ngươi không ghét Felix kẻ đã hỗn xược đuổi bạn mình ra khỏi cửa? Sao ngươi không kết tội tay nông dân định giết kẻ đã cứu con mình? Đời nào, họ là những sinh linh tốt đẹp không hề vấy bẩn! Ta đây, kẻ bị bỏ rơi thảm hại, lại là đứa trẻ bị vứt bỏ cho người ta hắt hủi, đá bạt đi, giẫm đạp lên. Lúc này đây nhớ lại những bất công ấy, ruột gan ta còn sôi lên sùng sục.

Nhưng đúng ta là một kẻ khốn nạn. Ta đã sát hại những con người đáng yêu, những kẻ không ai giúp đỡ, ta đã bóp cổ kẻ ngây ngô trong lúc người ta đang ngủ, đã in hằn vết tay trên họng những người chưa hề bao giờ phạm đến ta hay bất kỳ vật nào đang sống. Ta đã đưa người sáng tạo ra mình, mẫu hình ưu việt xứng đáng với tình yêu và sự kính trọng của người đời, đến chỗ khổ sở tột cùng; ta đã truy đuổi người đó tới tận cảnh suy sụp không cứu nổi ấy. Người đó đang nằm kia, trắng nhợt và lạnh giá trong cái chết. Ngươi ghét ta, nhưng nỗi ghê tởm ấy cũng không sánh nổi với lòng ta tự ghê hãi mình. Ta nhìn vào đôi bàn tay đã thực hiện hành động ấy; ta nghĩ đến trái tim đã hình dung ra nó; ta mong mỏi mãi tới lúc đôi tay này sẽ vuốt lên mắt ta, và hình dung ấy không còn ám ảnh tâm trí ta nữa.

Ngươi đừng sợ ta sẽ còn thực hiện những ác họa trong tương lai. Công việc của ta đã gần kết thúc. Không cần đến cái chết của ngươi hay của bất kỳ ai khác nữa để kết thúc những ngày tồn tại của ta và hoàn tất việc phải làm; chỉ cần duy nhất ta thôi. Ngươi cũng đừng nghĩ ta sẽ trì hoãn sự hy sinh. Ta sẽ rời tàu ngươi trên mảnh băng đã đưa ta tới đây, tìm đến tận đỉnh phía Bắc của địa cầu; ta sẽ thu thập nhiên liệu cho đám ma mình, thiêu thành tro cái hình hài thảm hại này, để không còn lại mảnh xác nào mà cung cấp ánh sáng cho bất kỳ kẻ khốn nạn tò mò phạm thánh nào có thể tạo ra một sinh vật giống như ta nữa. Ta sẽ chết. Sẽ không còn cảm thấy nỗi đau đớn giờ đây đang thiêu đốt, hoặc làm mồi cho những xúc cảm không được thỏa mãn và cũng không bao giờ nguôi ngoai. Người đưa ta đến cuộc đời này đã chết; và khi ta không còn nữa, những gì liên quan tới cả hai ta sẽ mau chóng biến đi. Ta sẽ không còn trông thấy mặt trời và các vì sao, cảm nhận làn gió nhẹ đùa trên hai má. Ánh sáng, tình cảm, mọi cảm giác sẽ không còn, và trạng thái đó sẽ khiến ta sung sướng. Vài năm trước đây, khi quang cảnh thế giới lần đầu mở ra trước mắt ta, khi ta cảm nhận được sự ấm áp vui tươi của mùa hè, nghe tiếng xào xạc của lá cây, tiếng chim hót líu lo trên cành, và những thứ đó là tất cả đối với ta, lúc ấy phải chết chắc ta đã khóc; giờ đây đó là niềm an ủi duy nhất của ta. Nhơ bẩn vì tội lỗi, day dứt vì ân hận chua cay, ta còn tìm thấy nơi đâu an bình hơn cái chết?

Vĩnh biệt! Ta rời bỏ ngươi, và cũng là rời bỏ con người cuối cùng đôi mắt này còn được thấy. Vĩnh biệt Frankenstein! Giả sử ngài còn sống và vẫn thiết tha trả mối hận thù đối với tôi, ngài sẽ thỏa mãn khi thấy tôi còn tồn tại hơn là hủy diệt. Nhưng không phải vậy; ngài quả đã muốn diệt tôi bằng được, để tôi không còn gây cảnh khốn khổ lớn hơn; và nếu không phải tư duy và cảm xúc của ngài đã chấm dứt vĩnh viễn, qua một quá trình còn bí hiểm đối với tôi, ngài cũng không thể khao khát trả thù tôi bằng nỗi khát khao của chính tôi. Ngài đã bị quật tan tành đến thế, nhưng nỗi thống khổ của tôi còn lớn hơn nhiều, bởi niềm ân hận xót xa sẽ còn chà xát vào vết thương tôi cho đến khi chúng khép lại vĩnh viễn trong cái chết.”

“Nhưng điều đó sẽ nhanh thôi,” hắn kêu lên nồng nhiệt một cách buồn rầu và trang trọng, “và cảm xúc của tôi lúc này sẽ không còn nữa. Chẳng mấy chốc những khổ sở cháy bỏng này sẽ tắt lịm. Tôi sẽ đắc thắng mà trèo lên đống củi giàn thiêu, và hân hoan trong đau đớn giữa lưới lửa cực hình. Ánh sáng đám cháy rồi sẽ tắt, nắm tro tàn sẽ được gió đưa xuống biển khơi. Linh hồn tôi sẽ ngủ yên bình, hoặc nếu như nó còn biết suy nghĩ, chắc chắn nó sẽ không nghĩ như giờ đây. Vĩnh biệt.”

Hắn lao qua cửa sổ cabin khi nói câu này, rơi xuống mảnh băng trôi cạnh con tàu. Chẳng mấy chốc hắn đã được con sóng đưa đi, mất hút trong bóng đêm xa thẳm.

HẾT
  Trước   Exit 
Chia sẻ truyện Frankenstein - chương 30 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Frankenstein
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Frankenstein - chương 30. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.236504077911 sec